Hành Trình Của Một Tù Nhân Lương Tâm
Tôi là một cựu tù nhân lương tâm. Khoảng cuối năm 2006, tôi bắt đầu viết một số bản tin về vấn đề đàn áp và nhân quyền ở Việt Nam, với nhiều bút danh khác nhau, ẩn danh mà đến bây giờ tôi cũng không nhớ hết.
Đến năm 2007, tôi bắt đầu công khai việc lên tiếng cho các vấn đề nhân quyền, dân chủ và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.
Đến năm 2008, chính xác là ngày 18 tháng 9 năm 2008, tôi bị bắt. Sau đó tôi bị kết án 4 năm tù giam, kèm quản chế, với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước” theo Điều 88 Bộ luật Hình sự. Sau này điều này được sửa đổi thành Điều 117 theo Bộ luật năm 2015.
Tôi hiểu rõ rằng những hoạt động của mình chính là nguyên nhân dẫn đến án tù đó. Họ kết án là “tuyên truyền chống nhà nước”, và họ không bao giờ thừa nhận Việt Nam có tù chính trị hay tù nhân lương tâm. Nhưng theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc và các tổ chức nhân quyền quốc tế, tôi là một tù nhân lương tâm — bị giam giữ vì thực thi quyền con người một cách ôn hòa.
Tôi bị triệu tập bắt đầu từ ngày 12 tháng 9 năm 2008.
Trước đó nhiều ngày, an ninh đã canh gác ở nhà tôi, ngăn cản quyền tự do đi lại, tôi không được ra khỏi nhà.
Đến ngày 12 tháng 9 năm 2008, họ xông vào nhà và khám xét mà không có bất kỳ lệnh nào. Từ ngày 12 đến ngày 18 tháng 9, họ liên tục đưa tôi lên cơ quan an ninh điều tra để làm việc.
Nếu tôi không đi thì họ ép, họ lôi tôi ra ngoài và cưỡng chế đưa đi. Không có bất cứ một lệnh hợp lệ nào.
Khi tôi yêu cầu phải có lệnh triệu tập, ban đầu họ không đưa ra. Sau đó họ mới rút từ cặp tài liệu ra, nhưng cũng chỉ giơ lên cho tôi xem chứ không cho tôi cầm. Khi tôi yêu cầu cầm thì họ thụt lại, nói rằng chỉ được nhìn.
Sau một lúc tranh cãi, một người an ninh mới giơ tờ giấy đó ra để tôi đọc. Trên đó ghi là 9 giờ sáng ngày 12 tháng 9 năm 2008, nhưng thực tế lúc họ đến nhà tôi là khoảng 11 giờ trưa.
Tôi không hề được thông báo đầy đủ, cũng không được đảm bảo quyền của mình. Tôi cho rằng họ đã chà đạp và vi phạm chính luật mà họ ban hành.
Trong suốt thời gian từ ngày 12 đến ngày 18, tôi bị đưa đi thẩm vấn liên tục.
Có lúc tôi mệt đến mức phải nhờ gia đình gọi bác sĩ đến truyền nước. Nhưng ngay cả khi tôi đang nằm truyền dịch, công an vẫn đứng quanh giường chờ tôi truyền xong để đưa đi làm việc tiếp.
Do gia đình phản đối dữ dội nên hôm đó họ không đưa tôi đi nữa, nhưng sau đó vẫn tiếp tục.
Đến ngày 18 tháng 9, họ đọc lệnh bắt.
Trong suốt thời gian đó, họ không thông báo quyền của tôi, không cho gia đình biết tôi bị giam ở đâu. Gia đình tôi phải đi tìm suốt hơn một tuần, hỏi rất nhiều lần thì sau đó họ mới cho biết tôi bị giam tại trại tạm giam Trần Phú, Hải Phòng.
Cho đến bây giờ, gần 20 năm trôi qua, tôi vẫn chưa từng được nhìn thấy lệnh khám nhà một cách đầy đủ.
Tôi bị tạm giam từ ngày 18 tháng 9 năm 2008 cho đến khi ra tòa vào tháng 1 năm 2010.
Sau đó, tôi được chuyển lên trại giam vào khoảng tháng 3 năm 2010.
Tính đến khi ra tòa là hơn 16 tháng bị tạm giam.
Trong khoảng thời gian từ ngày 12 đến ngày 18, tôi bị khám nhà hai lần — vào ngày 12 và ngày 18.
Chỉ trong vòng sáu ngày, tôi bị khám nhà hai lần, nhưng không hề có lệnh khám nhà hợp lệ. Họ chỉ đọc, và gia đình tôi không được giữ bất kỳ giấy tờ nào.
Khi bị bắt, họ có đọc lệnh bắt theo Điều 88.
Khoảnh khắc tôi bị bắt đã được ghi âm và sau đó được đưa lên mạng.
Chi tiết này khá đặc biệt.
Khoảng ngày 11 tháng 9, tôi đã dự đoán mình sẽ bị bắt, vì trước đó nhiều người đã bị bắt như Phạm V.T., Trần Đ.T., Nguyễn X.N., Nguyễn V.T., Nguyễn K.N., Ngô Q., v.v.
Tôi nghĩ không có lý do gì mà họ không bắt tôi.
Trong thời gian đó, tôi có liên lạc với một thông tín viên của đài RFA tên là H.V. Tôi nói rằng có thể tôi sẽ bị bắt, và nếu có thể thì hãy gọi cho mẹ tôi.
Tôi đưa số điện thoại của mẹ tôi cho H.V. Mẹ tôi khi đó dùng điện thoại Nokia đen trắng, chỉ có chức năng gọi và nhắn tin.
Tôi dặn mẹ tôi rằng khi họ đến khám nhà thì không nói gì, chỉ giữ điện thoại đang mở cuộc gọi.
Khi họ vào khám nhà, họ kiểm tra rất kỹ, kể cả trong nhà vệ sinh. Nhưng họ không phát hiện ra chiếc điện thoại mà mẹ tôi giấu trong áo.
Chiếc điện thoại đã được gọi sẵn cho H.V., và toàn bộ quá trình đã được ghi âm từ đầu bên kia.
Sau này, H.V. kể lại rằng hôm đó rất khó khăn, vì bên Mỹ lúc đó là ban đêm, lại bị mất điện do bão. Gia đình cô phải dùng máy phát điện để duy trì việc ghi âm.
Toàn bộ quá trình công an đọc lệnh bắt và đối đáp với tôi đã được ghi lại và phát trên đài RFA.
Trong suốt thời gian tạm giam hơn một năm, tôi gần như không được gặp luật sư, ngoại trừ một lần rất ngắn trước khi ra tòa, có lẽ chưa đến một tiếng.
Không có bất kỳ sự giám sát nào đảm bảo tính công bằng trong quá trình thẩm vấn. Nếu có ghi âm hay ghi hình thì cũng chỉ phục vụ cho phía họ, không phải để bảo vệ quyền của tôi.
Tôi bị thẩm vấn rất nhiều lần, có thể gần một trăm lần.
Ban đầu, việc thẩm vấn diễn ra ở khu vực có thể nhìn thấy những người bị tạm giam khác.
Sau đó, tôi bị chuyển xuống khu biệt giam — nơi dành cho những trường hợp bị coi là “đặc biệt nguy hiểm” hoặc các vụ án đặc biệt.
Tôi không phải là người nguy hiểm, nhưng có lẽ họ coi tôi là “đặc biệt”.
Buồng giam rất nhỏ, khoảng hơn chục mét vuông, ẩm thấp, vệ sinh kém.
Trong phòng có một bàn sắt và một chiếc ghế.
Khi thẩm vấn, tôi bị trói chân. Chiếc ghế tôi ngồi có một thanh sắt chắn ngang phía trước. Tôi không rõ lý do, nhưng cảm giác giống như những gì tôi từng thấy trong các bộ phim về tội phạm nguy hiểm.
Buồng giam trong giai đoạn tạm giam được chia làm nhiều loại.
Tôi đã bị giam ở hai, thậm chí ba phòng khác nhau.
Tức là khi chưa có án, đang trong giai đoạn điều tra, thì tôi bị giam ở hai nơi.
Thứ nhất là một nơi tạm gọi là buồng chung, tức là họ giam mình chung với những người khác. Thời gian đó, tù chính trị nữ rất hiếm, gần như không có. Thậm chí khi tôi vào trong đó, có một nữ quản giáo — sau này tôi nghe người khác nói bà ta là thân gia của ông đương kim Bộ trưởng Bộ Công an thời đó là Lê H. A., đại tướng — còn nói rằng trong mấy chục năm bà ấy làm nghề này, chưa từng thấy một người phụ nữ nào “phạm cái tội này” cả. Từ bà ta dùng là “phạm tội này”. Tôi rất ngạc nhiên.
Vì tôi là tù nhân chính trị duy nhất trong số rất nhiều nữ tù ở trong đó, nên họ không có buồng giam riêng dành cho tù chính trị. Vì vậy, trong khoảng bốn tuần đầu, tôi bị giam chung với các tù hình sự.
Cái buồng giam đó chia ra làm năm ngăn. Nếu hình dung như một căn nhà trọ có các góc, các khoang, thì nhà tù đó cũng kiểu như vậy. Trần của nó cũng giống như nhà bình thường thôi, nhưng bên trong họ xây thêm một cái bệ, cái bệ đó bao gần như toàn bộ mặt sàn. Trên bệ ấy thì một số tù nhân nằm, còn phía dưới lại có người nằm luồn bên dưới. Tức là nó thành gần như hai dãy.
Tôi không biết chính xác diện tích bao nhiêu, nhưng tôi nghĩ cả buồng giam đó chắc chỉ khoảng hơn ba chục mét vuông, trên dưới ba mươi mét vuông gì đó. Thế nhưng họ ngăn ra, và có thời điểm đến mấy chục người phải nằm trong đó.
Theo quy định của nhà nước thì mỗi một chỗ nằm của tù nhân bề ngang phải là một mét. Nhưng trong buồng giam đó thì chưa bao giờ chúng tôi có được một mét. Có khi chỉ được bảy mươi phân, sáu mươi phân bề ngang. Khi nào ít người hơn, hoặc có người đi tòa, đi nơi khác bớt đi, thì may ra mới được khoảng tám mươi centimet bề ngang. Cứ tính chiều ngang cho dễ hình dung.
Cho nên mới có cảnh nằm ốp kề, tức là lưng chạm vào nhau, nằm nghiêng. Điều kiện giam giữ là như vậy.
Ngoài buồng chung còn một nơi nữa, đó là buồng riêng, tức là biệt giam.
Tôi bị biệt giam trong một gian khoảng năm hay sáu mét vuông gì đó, không có cửa sổ, chỉ có một cánh cửa sắt bịt kín. Trên cánh cửa sắt đó chỉ có sáu cái lỗ nhòm, to bằng quả trứng. Tôi gọi đó là lỗ nhòm.
Mỗi ngày họ mở cửa cho tôi hai lần, sáng và chiều, vì trong đó không có toilet. Tôi phải ăn tại chỗ, vệ sinh tại chỗ, mọi thứ đều tại chỗ hết. Cho nên một ngày họ mở cửa hai lần để tôi đổ bô, đổ những thứ mình thải ra, rồi đi lấy cơm vì họ để sẵn một xô cơm ở ngoài sân. Khi ra đó, mình mang tô, bô, bát chén nhựa ra lấy cơm rồi đi vào ăn.
Tôi thuộc diện đi cung triền miên, nên trung bình một ngày phải đi cung hai lần. Vì thế họ cứ mở cửa cho tôi đi cung, rồi khi về thì lại mở cửa cho vào, chứ không hề có chuyện tắm nắng hay hít thở không khí như quy định hoặc như những gì họ vẫn nói trên truyền thông.
Cái buồng đó không có cửa sổ, không có quạt điện. Cánh cửa sắt che kín hết, chỉ có sáu lỗ nhỏ. Nếu sau khi mình đi lấy cơm xong mà họ đóng cửa lại, thì người nào còn tử tế một chút, bớt ác một chút, sẽ để hở sáu cái lỗ đó. Vì dù chỉ có sáu lỗ nhỏ thôi thì cũng còn có chút không khí, còn đỡ ngột ngạt. Nhưng tôi nhớ rất rõ trong số cai tù có hai người thường xuyên lấy cớ là “quên”, rồi khi đóng cửa lại thì lấy một tấm bìa xi măng chặn nốt sáu cái lỗ nhỏ đó.
Khi họ chặn kín sáu cái lỗ ấy thì buồng hoàn toàn kín mít. Trong khi chỉ sáu cái lỗ nhỏ thôi đã là quá thiếu không khí rồi, họ vẫn còn bịt nốt vào nữa.
Tôi là người phản đối rất nhiều, nên lần nào họ cũng “quên”. Bởi vậy mỗi lần đi ra tôi đều phải nhắc. Nhưng đó là khi mình còn tỉnh táo, còn ở trong buồng. Có những lần đi cung về, họ đóng cửa vội quá, mình cũng quên không nhắc, thì lại bị nhốt trong điều kiện như thế.
Trong buồng đó có hai cái bệ xi măng. Một trong hai cái bệ có gắn một cái cùm ở bên dưới. Cái cùm đó là loại phải đưa chân vào. Nếu bị cùm lâu thì rất dễ rỉ máu. Cái cùm cao hơn mặt bệ nằm khoảng hai mươi phân. Tôi chưa bao giờ bị cùm, nhưng phải cho chân vào đó. Nhiều khi chỗ nằm quá chật, chiều ngang không đủ, mình lại phải gác chân lên cái cùm cho đỡ vướng.
Ở giữa hai bệ là một cái rãnh để đi lại. Hàng ngày tôi tập thể dục bằng cách đi từ cuối buồng đến cửa buồng giam. Đi đâu cũng chỉ sáu bảy bước chân là hết diện tích.
Một góc gần cửa thì để thức ăn, đồ ăn. Góc còn lại thì để bô, để đi vệ sinh vào đó. Điều kiện sinh hoạt của tôi là như vậy.
Về chế độ ăn uống, một ngày được hai bo cơm. “Bo” ở đây tức là một cái bát, cái tô nhỏ. Dùng muỗng nhựa, không được dùng đồ sắt nhọn hay kim loại.
Nếu ở phòng chung thì một số tù nhân “tự giác” sẽ được phân công ra chia cơm. Đến giờ thì cơm được để sẵn ngoài sân, mỗi người một bo như vậy.
Còn trong thời gian tôi ở biệt giam thì cơm có vẻ nhiều hơn một chút. Chỉ là nhiều hơn một chút thôi, vì không phải chia như ở phòng chung. Họ cứ để nguyên một phần cơm ở đó, kiểu như bảo ăn bao nhiêu thì ăn. Nhưng thực ra mình cũng đâu ăn được nhiều.
Nói chung, một ngày là hai bo cơm như thế.
Đồ ăn quanh năm ngày tháng chủ yếu là rau muống luộc. Nhưng thực ra gọi là rau muống luộc cho sang vậy thôi. Tôi hình dung là họ lấy rau muống, quăng quật qua nước rồi cho vào nấu. Rau rất già, nguyên cả gốc cả rễ, thưa thớt vài cọng, không sạch, nước thì đen sì.
Thời tôi ở đó, một tháng chỉ được ăn thịt ba lần, vào ngày mười, ngày hai mươi và ngày ba mươi hàng tháng. Tức là mười ngày một lần, nhưng nói chính xác cũng không hẳn, vì một tháng đâu phải lúc nào cũng chia đều như vậy. Dù sao thì cứ ngày 10, 20, 30 là được ăn thịt. Nhưng chỉ một bữa thôi, không phải cả hai bữa trong ngày. Hai bữa vẫn là cơm, nhưng thịt chỉ có một bữa vào những ngày đó.
Cái thịt đó là thịt thầu, thịt mỡ, họ kho lên đến mức nó ươn ươn. Còn đậu thì là đậu phụ, ở miền Nam gọi là đậu hũ. Một tuần chắc được khoảng một lần, có thể là thứ ba hay thứ sáu gì đó, bây giờ cũng gần hai chục năm rồi nên tôi không nhớ chính xác. Mỗi người được một miếng đậu nhỏ, cỡ bằng hai ba đốt ngón tay thôi.
Còn hàng ngày thì ăn cơm với muối lạc vừng, tức là đậu phộng rang giã với muối. Nhưng thực ra chủ yếu là muối, chỉ có lác đác vài hạt lạc nát thôi. Thức ăn chính là như vậy.
Ở căng-tin thì họ bán ruốc thịt, tức là chà bông, rồi thịt kho, vài quả cam, chanh, đường, trứng luộc và mắm tép. Hoàn toàn không có chất tanh, không có cá. Thứ tươi duy nhất là cam và chanh. Chỉ có thịt, mắm tép và đậu phụ thôi. Họ không phát cá, cũng không bán cá, không bán rau cho tù nhân.
Sau này tôi có hỏi một số người thì họ nói những trại khác có rau, có cá. Nhưng ở đây thì quanh năm chỉ có rau muống, và tuyệt nhiên không bao giờ có một con cá nào hết. Hoàn toàn không.
Điều kiện ăn uống, sinh hoạt là như vậy. Mà thịt họ phát thì cũng không ăn nổi. Cho nên gia đình phải tiếp tế. Nhưng có những người dù có tiếp tế thì cũng phải mua ở căng-tin. Mua ở căng-tin thì vừa đắt, vừa rất ít lựa chọn, chỉ quanh quẩn những thứ tôi vừa kể.
Anh cứ thử tưởng tượng, nếu trong suốt một tuần hay một tháng mà phải ăn đi ăn lại từng ấy thứ thì mình sẽ rất ngán. Nhưng ở trong tù, vấn đề không còn là khẩu vị nữa, mà là dinh dưỡng. Mà về chất lượng dinh dưỡng thì hầu như không có.
Cho nên trong tù xảy ra chuyện phụ nữ bị lo lắng, sợ hãi, thiếu chất, nên nhiều người còn rất trẻ, hai mươi mấy ba mươi tuổi, đang khỏe mạnh mà bị mất kinh nguyệt là chuyện rất bình thường. Đây là điều tôi thấy rất ít người quan tâm, nhưng theo tôi là một yếu tố cần được chú ý nhiều hơn, thậm chí cần hỏi thêm các bác sĩ chuyên môn để lý giải vì sao phụ nữ khi bị giam tù lại gặp hiện tượng như vậy.
Về nước sinh hoạt thì ở Trần Phú, nước tương đối ổn. Đó là nước máy, khá sạch, không phải kiểu nước ao tù gì. Trại Trần Phú nằm ngay trong trung tâm thành phố.
Tuy nhiên, họ quy định rất chặt. Ví dụ tắm thì được một xô. Gội đầu được một xô. Giặt đồ được một xô. Gội đầu thì một tuần mới được gội một lần. Tắm thì một tuần được hai lần. Còn những ngày khác chỉ được rửa gáy. Rửa gáy một xô, tắm một xô, gội đầu một xô, giặt một xô. Một tuần chỉ được phép giặt một đến hai lần thôi.
Dù nước có sạch thì họ cũng hạn chế như vậy, nên rất khổ. Đánh răng rửa mặt thì được một ca nước, chắc khoảng một lít gì đó.
Còn nước uống hàng ngày thì do một thành phần gọi là “tù tự giác” phụ trách. Người này được phân công bê đồ ăn, đưa cơm, phát nước cho các buồng giam dưới sự giám sát của cai tù. Cai tù dẫn người đó đi từng buồng. Mỗi sáng họ cung cấp một thùng nước ấm để uống. Tôi không biết họ có đun sôi thật không, nhưng có lần tôi thấy nước vẫn còn âm ấm, nên có thể là họ có đun. Họ đổ nước vào một thùng lớn có sẵn vòi, rồi tù nhân lấy từ đó ra uống. Về nước uống thì tương đối sạch sẽ.
Trong suốt thời gian tạm giam, tôi không được đọc sách, không được viết thư, không được tiếp cận thông tin bên ngoài qua báo đài hay thư từ.
Buổi tối thì họ có cho xem tivi, chủ yếu là chương trình thời sự, hình sự của VTV1. Mà anh biết rồi, truyền thông của đảng thì hoàn toàn bị kiểm soát, họ cho xem cái gì thì mình xem cái đó, không có quyền lựa chọn. Họ bật khoảng từ bảy, tám giờ tối đến chín, mười giờ thì tắt.
Báo thì hoàn toàn không có. Tôi cũng không được biết thông tin gì từ gia đình. Gia đình cũng không biết gì về tôi. Mọi thông tin đều bị khép kín hoàn toàn.
Trong suốt mười mấy tháng tạm giam, tôi không được gặp gia đình. Nhưng gia đình được gửi quà vào khoảng một tuần một lần. Đó là quy định chung. Gia đình gửi vào thì chỉ có thể gửi, ghi tên rồi để đó, chứ không được gặp hay nhận trực tiếp.
Trong thời gian ở tù, lúc đó tôi chưa theo một tôn giáo nào cụ thể. Nhưng tôi đọc khá nhiều, và tôi từng giữ Kinh Thánh giúp cho một số người tù theo Công giáo.
Họ không được thực hành tôn giáo của mình, không được giữ Kinh Thánh, không được làm bất cứ điều gì để thể hiện đức tin một cách công khai. Tất cả đều là điều cấm kỵ. Cho nên họ phải giấu giếm, rất sợ. Nếu gia đình lén lút gửi được một cuốn Kinh Thánh vào thì họ cũng phải giấu và đọc bí mật. Nói thật, việc đó chỉ có thể xảy ra khi có cai tù nào đó làm ngơ hoặc ăn tiền để cho lọt vào.
Có người đã nhờ tôi giữ cuốn Kinh Thánh đó giúp. Vì tôi không đi lao động, thường ở buồng, và đồ đạc của tôi thì cai tù cũng không dám động vào. Họ biết điều đó nên nhờ tôi cất giữ.
Nói ngắn gọn thì là không, tù nhân không được thực hành nghi thức tôn giáo hay thể hiện đức tin của mình. Đó là điều bị cấm.
Về y tế, trong thời gian ở tạm giam, có một lần tôi lên cơn đau rất dữ dội, đến giờ tôi cũng không biết mình bị gì. Tôi chỉ biết là rất đau, nhưng họ không đưa tôi đi cấp cứu.
Khi tôi đau quá rồi thì một lúc sau đỡ hơn một chút, họ vẫn lôi tôi ra buồng cung. Ra đến nơi tôi lại đau tiếp, đau quá nên cuối cùng họ cho về. Nhưng họ không hề cho bác sĩ hay y tá đến thăm khám tôi. Sau này người bị giam cùng buồng kể lại rằng có một cai tù và hai nhân viên y tế xuống hỏi xem tôi bị làm sao, có biểu hiện gì, rồi thôi. Họ không gặp tôi, không thăm khám, không kết luận gì cả.
Đó là thời gian biệt giam. Còn khi lên trại lớn thì có một số lần ốm đau, nhưng mỗi lần như vậy là phải xin xỏ, phải xuống nước. Mà tính tôi thì rất ngang, tôi ghét phải đi xin xỏ người khác. Có những lúc tôi mệt quá, các chị trong buồng mới năn nỉ tôi: thôi cứ nói một câu đi để họ báo y tế chứ cũng không cần coi như xin xỏ gì cả. Ở lâu người ta biết tính mình rồi.
Sau này tôi có cảm giác là cai tù cũng không muốn va chạm với tôi. Nên đôi khi có ốm đau thì họ cũng xuôi xuôi cho nghỉ, cho nằm lại. Nhưng cái chính là tôi thuộc diện “chống đối lao động”, không phải đi làm, nên ốm mệt thì chỉ nằm trong buồng, không ảnh hưởng đến việc gì.
Còn với những người khác thì thật sự rất khốn khổ. Có người tuyệt vọng đến mức tự tử trong trại. Nhiều trường hợp như vậy. Nhưng cay đắng là họ không chết, và khi tự tử không thành thì vẫn bị kỷ luật, vẫn bị mắng chửi vì vi phạm nội quy.
Những điều tôi kể có thể hơi dài dòng, nhưng bản thân chuyện tù đày là như vậy. Mỗi chuyện nó kéo theo nhiều chuyện khác. Không thể chỉ trả lời ngắn gọn có hay không được.
Với riêng tôi, có thể không phải lúc nào cũng quá khắc nghiệt, có lẽ một phần do thái độ và cách tôi tranh đấu, hoặc cũng có thể là do mình may mắn hơn một chút. Nhưng với những người khác mà tôi chứng kiến thì rất khốn khổ.
Về nguyên tắc, việc tù nhân có được chăm sóc y tế hay không đã có quy định trong luật hết. Luật thi hành án, luật dành cho người tạm giam, tạm giữ hay người đang thi hành án đều có quy định rõ rằng họ được quyền khám chữa bệnh, được quyền này quyền kia, không phải mất tiền, rồi cả lao động cũng phải phù hợp sức khỏe.
Nhưng trên thực tế, kể cả tù nhân chính trị, như ta thấy rất nhiều rồi, người nhà phản ánh, người đi tù về phản ánh, thì đâu có được chăm sóc y tế đúng mức. Với tù hình sự thì có tiền để lo lót thì còn được, không thì thôi. Tôi cũng chứng kiến nhiều người chết trong tù rồi. Đó là sự thật khách quan, hiển nhiên, chứ không phải phóng đại.
Còn trong một trường hợp cụ thể, nếu tù nhân muốn đi bệnh viện hay cần chữa bệnh gì, thì ban giám thị là nơi ra quyết định. Theo lý thuyết, ban giám thị là người quyết định mọi thứ. Nhưng trước đó phải có người cấp dưới báo cáo lên, vì họ là người trực tiếp quản lý tù nhân: quản giáo, cán bộ phụ trách buồng, phụ trách nhân lực, giáo dục, v.v. Họ báo cáo lên, rồi giám thị hoặc phó giám thị mới ký quyết định xem người đó có được đi viện, đi khám bác sĩ hay không.
Về việc tra tấn, ép cung hay ngược đãi trong thời gian tạm giam điều tra, nếu hỏi theo nghĩa trực tiếp là có bị đánh đập không, thì câu trả lời của tôi là không.
Nhưng tôi muốn lưu ý rằng tra tấn và ép cung không có nghĩa lúc nào cũng phải là đánh đập. Tôi không bị đánh đập, nhưng tôi từng bị đe dọa, bị gây sức ép tinh thần rất nhiều. Theo tôi, đó cũng là một dạng tra tấn, một dạng đàn áp tinh vi trong tù.
Còn những trường hợp khác thì có chứ, tôi biết nhiều. Đặc biệt là tù nhân hình sự thì họ bị nhiều hơn.
Những người ở cùng buồng với tôi thường kể rằng khi mới bị bắt vào thì bị đánh vào mặt, bị cai tù hoặc điều tra viên tát, đánh. Nhưng cái điều tôi muốn nói nhất là họ bị bắt ký khống. Đây là một hình thức ép cung rất phổ biến: không cần khai gì cả, cứ ký vào giấy trước, rồi sau đó người ta muốn điền gì vào thì điền.
Bản thân tôi cũng từng khuyên một người bị bắt ở trong đó là tuyệt đối không ký bất cứ điều gì mà mình không biết rõ, đặc biệt là không ký vào giấy trắng.
Điều tôi thấy phổ biến nhất trong đó chính là chuyện chạy án và ép cung.
Ép cung, bấm cung, thậm chí ngụy tạo hồ sơ nữa — tôi thấy những chuyện này thực ra không hề hiếm. Ngược lại, nó rất phổ biến.
Còn những trường hợp không chạy án, không bị ép cung, hoàn toàn làm theo luật, thì mới là hiếm hoi, không phổ biến.
Những trường hợp vi phạm luật tố tụng, làm sai quy trình, oan uổng các thứ, theo tôi thấy, mới là chuyện rất phổ biến trong cộng đồng tù hình sự ở Việt Nam, đặc biệt là trong thời gian bốn năm tôi ở trong tù và tận mắt chứng kiến.
Còn tra tấn về thể xác thì những câu chuyện đó tôi nghe thấy nhiều hơn ở trên trại. Nếu còn ở tầng dưới thì ít nghe hơn, bởi vì đối với những người tù chính trị như tôi — mà tôi lại là tù nhân chính trị duy nhất — thì ngay từ khi vào cũng như lúc rời đi, những người tù khác đã bị cảnh báo, bị đe dọa là không được chơi, không được tiếp xúc, không được kể chuyện với tôi. Bản thân họ cũng không dám.
Những chuyện như bị ép cung, bị bấm cung, bị đánh, bị tát thì lúc ban đầu tôi còn nghe loáng thoáng. Nhưng về sau hầu như không ai dám kể cho mình nữa, vì họ áp dụng chính sách cô lập đối với tôi. Cho nên tôi cũng không được biết nhiều về các câu chuyện của họ nữa.
Nhưng không phải là tôi hoàn toàn không biết. Có những điều không biết một cách trực tiếp, nhưng qua quan sát thì vẫn biết. Bởi vì không gian chỉ có mấy chục mét vuông thôi. Khi họ đem một tờ giấy vào, hay lúc họ kể cho những người khác nghe, thì mình vẫn nghe thấy, vẫn thấy.
Còn khi lên trên trại Nam Thanh Hóa, dù họ vẫn dùng chính sách cô lập tôi như vậy, nhưng trong hàng ngàn người tù thì cũng có vài người không sợ, vẫn tiếp xúc với mình. Chính từ đó mà tôi nghe được những câu chuyện về việc họ ép cung, tra tấn phụ nữ rất kinh hoàng.
Về điều kiện sinh hoạt khi lên trại lớn, tức là trong thời gian thụ án sau khi ra tòa, thì dĩ nhiên là so với trại tạm giam, nó có phần “thoải mái” hơn. Bởi vì khi đã có án rồi, người ta biết mình sẽ ở đó lâu dài, sẽ đi lao động, đi làm, rồi có thăm gặp này kia. Về lý thuyết thì nó phải đỡ hơn.
Nhưng nhà tù Việt Nam, nhất là đối với những trại như Nam Thanh Hóa, thì vẫn rất nghèo nàn và rất khắc nghiệt, đặc biệt trong bối cảnh thể chế như vậy.
Tôi nghĩ rằng trại 6 Nghệ An và trại 5 Thanh Hóa là hai trại có thể nói là tàn bạo nhất trong hệ thống nhà tù Việt Nam những năm gần đây, nhất là trại 6 và trại 5.
Chỉ cần nhìn cách cai tù nói chuyện, cư xử thôi là đã thấy ghê tởm rồi.
Ăn uống thì đối với tù nhân bình thường, nếu chỉ trông vào chế độ trại cấp, thì rất khốn khổ. Sau này khi tôi ra tù, có điều kiện tìm hiểu luật và so sánh, tôi mới thấy rằng ngay cả tiêu chuẩn khẩu phần dành cho người tù vốn đã rất ít, nhưng chuyện bớt xén còn xảy ra nhiều nữa.
Thức ăn thì không ăn nổi. Ví dụ bây giờ mình cần ăn thịt, ăn cá, nhưng những miếng thịt đó kho lên thì mùi bốc ra không thể ăn nổi. Còn cá thì là cá mè non, tôi gọi là cá mè non. Tức là con cá mè phải to cỡ cả ký ăn mới được, còn loại chỉ hai ba lạng, nhỏ xíu, đem kho lên thì tanh vô cùng.
Đặc biệt là chế độ lao động ở trại Nam Thanh Hóa cũng rất khắc nghiệt. Thời tiết khắc nghiệt, và cách đối xử của cai tù với tù nhân cũng rất khắc nghiệt.
Tôi không bị kỷ luật, cũng không bị chuyển trại vì lý do kỷ luật. Tôi chỉ bị chuyển từ trại tạm giam Trần Phú lên trại Nam Thanh Hóa vì lúc đó tôi đã thành án, tức là đã có bản án rồi. Sau đó tôi ở trại 5 Thanh Hóa cho đến ngày hết án, cho đến ngày về.
Nếu nói về chế độ ăn uống của trại giam đối với những người tù “mồ côi”, tức là không có gia đình thăm nuôi, thì theo tôi, không thể đáp ứng đủ nhu cầu.
Thực ra nói đến “nhu cầu” thì rất rộng, khó biết thế nào là đủ, vì nhu cầu con người là vô cùng. Nhưng nếu nói ở mức tối thiểu, thì tôi chỉ so sánh giữa quy định và thực tế thôi.
Ngay bản thân quy định dành cho người thi hành án đã rất khắc nghiệt, rất thiếu thốn rồi. Nhưng thực tế ở các trại giam, đặc biệt như Thanh Hóa, thì việc thực hiện còn tệ hơn nhiều.
Như tôi vừa nói, nó không được như quy định. Ví dụ về thịt: giả sử một tháng được ba lạng hay bốn lạng thịt thì lượng đó vốn đã ít rồi. Nhưng chưa hết, cái vấn đề còn nằm ở chất lượng. Nếu nói là được ăn thịt, thì phải có cả nạc cả mỡ chứ. Nhưng họ đưa ra toàn thịt mỡ, không ăn được. Mà nấu cũng không chín.
Tôi đã từng phải gặp ban giám thị để yêu cầu nấu chín thức ăn hơn, yêu cầu đối với đội nhà bếp. Nhưng ban giám thị bao giờ cũng tránh. Họ cứ bảo nói với cán bộ A, cán bộ B, cán bộ C thôi. Cho nên nhiều khi tôi phải tận dụng cơ hội, ví dụ tình cờ gặp ai đó to to, có chức quyền một chút, họ hỏi vài câu thì mình tranh thủ nói luôn.
Tiêu chuẩn ăn của người tù, nhất là đối với người không có gia đình, không có ai giúp đỡ, không có gì bồi dưỡng thêm, thì hoàn toàn không đủ.
Mà anh biết rồi, trại 5 Thanh Hóa chủ yếu giam những người án dài: mười năm, mười lăm năm, hai mươi năm, chung thân. Hầu như là tù án dài mới lên đó, chứ án dưới bảy năm thì trước kia không có đi Thanh Hóa. Sau này có thay đổi một chút, có những người chạy chọt hay vì lý do nào đó thì mới khác.
Vậy mà với những người tù án dài, trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt, chế độ cai quản khắc nghiệt, mà dinh dưỡng lại như vậy, thì làm sao chịu nổi.
Về mặt hình thức, người tù có quyền khiếu nại, khiếu tố, phản ánh hay đề đạt. Theo luật thì đi tù chỉ là bị hạn chế một số quyền chứ không phải bị cướp hết mọi quyền. Ví dụ như quyền bầu cử, ứng cử thì trong thời gian thi hành án không có, nhưng quyền khiếu nại, quyền khiếu tố, quyền được pháp luật bảo vệ thì vẫn còn.
Còn việc có hiệu quả hay không thì còn tùy.
Trong trường hợp của tôi, liên quan đến việc có người không được khám chữa bệnh, không được dùng nước nóng, không được có chăn đệm đủ ấm vào mùa đông, thì nhiều lần tôi phải đề đạt.
Mỗi lần làm việc, tôi đều yêu cầu gặp người có quyền cao nhất là ban giám thị. Nhưng trong suốt hai năm rưỡi ở Thanh Hóa, thời ông Lực làm giám thị, tôi chưa bao giờ gặp được ông ấy. Lần nào cũng bị hẹn rồi né.
Muốn gặp thì mình phải nói với các cán bộ cấp dưới của ông ta. Nhưng khi nói với họ thì lúc họ bảo quên, lúc bảo chưa gặp, lúc thì bảo ban giám thị đang họp. Suốt cả năm trời cứ như vậy. Nói thật là họ trốn mình.
Có những chuyện như không cho dùng băng vệ sinh, không cho dùng nước nóng trong những ngày phụ nữ đau đớn, tôi đã phải đấu tranh. Cuối cùng họ cũng phải nhượng bộ phần nào.
Dù không gặp được ông Lực, nhưng tôi có gặp phó giám thị là bà Nguyễn T.C. vài lần. Bà này cũng từng được báo chí đăng nhiều. Khi bà ấy đi vào, tôi tranh thủ hỏi, tranh thủ phản ánh.
Tôi thấy là việc đó rất khó khăn, nhưng có lẽ khó với tôi thôi. Còn đối với tù nhân bình thường thì họ thường chỉ chấp hành, hoặc nếu có tiền thì họ đút lót, họ làm việc trực tiếp với cán bộ quản giáo, chứ không có nhu cầu gặp ban giám thị. Nếu có việc gì không bất lợi cho trại thì chắc việc gặp gỡ cũng bình thường. Còn với tôi thì khó, vì mục đích gặp của tôi thường là để nêu ra những chuyện bất lợi cho họ, nên họ tránh.
Một ngày bình thường của tù nhân ở trại giam thì diễn ra như sau.
Tôi thường gọi là “người tù”, ít khi dùng chữ “phạm nhân”.
Buổi sáng dậy lúc mấy giờ thì lâu quá tôi không nhớ chính xác, có thể là năm giờ, năm rưỡi hoặc sáu giờ.
Thời gian đầu ở Thanh Hóa, tôi cũng được xếp vào một đội lao động cấp trại. Nhưng sau đó, kể từ năm cuối cùng, sau khi ông Cao N.O. — người đứng đầu Tổng cục trại giam khi đó — có tác động gì đó, thì cai tù sợ quá, không cho tôi ra ngoài khu lao động nữa mà cho tôi ở trong buồng. Thời gian đó tôi chủ yếu ở trong nhà, đọc sách, sinh hoạt trong buồng.
Còn về nếp sống chung thì buổi sáng có kẻng báo thức, cán bộ đi qua điểm buồng. Mọi người phải dậy. Điểm buồng tức là cán bộ đứng bên ngoài, còn một người tù “cờ đỏ” hay kiểu tù được chọn để giúp việc cho cai tù sẽ đi từng người, từng hàng, kiểm tra xem có đủ số người không.
Sau đó mọi người đánh răng, rửa mặt, lấy cơm sáng. Ai ăn thì ăn, không ăn thì thôi. Rồi xếp hàng đi ra ngoài vườn lao động.
Làm việc đến trưa thì về, ăn cơm trong đội, nghỉ một chút rồi lại đi làm tiếp. Đến chiều lại về, rồi tất bật tranh thủ tắm giặt, ăn uống. Có nhiều người không đủ thời gian làm vệ sinh cá nhân cho xong thì đã bị lùa vào buồng rồi.
Buổi tối bị nhốt trong buồng, xem tivi hoặc tranh thủ làm việc gì đó. Có người làm vàng mã, có người thêu thùa, thì họ phải giấu, tranh thủ mang việc vào trong buồng để làm. Vì ở ngoài khu lao động thì không có thời gian, không đủ sức, cũng không đủ điều kiện để làm thêm gì cả.
Nhưng mang đồ vào trong buồng là bị cấm. Bị cấm thì người ta phải giấu, hoặc phải đút lót. Chuyện tù nó nhiều thứ lắt léo lắm.
Nói chung là một ngày cứ như vậy: sáng dậy, đi làm; trưa về, ăn vội; chiều lại đi làm; tối về nhập buồng. Thời gian từ lúc đi làm về cho đến lúc bị khóa cửa buồng rất ngắn. Nhiều người còn không kịp tắm gội. Có người đang tắm dở mà bị gõ kẻng một cái là phải vội vã xối nước lên người, mặc đại bộ quần áo ướt rồi chạy vào buồng. Cuộc sống của người tù là như vậy.
Về mặt luật pháp, khi tòa tuyên án thì người tù không phải bị mất hết quyền công dân, mà chỉ bị tạm thời tước bỏ một số quyền nhất định. Ví dụ trong thời gian thi hành án thì không được ứng cử, không được bầu cử. Nhưng các quyền khác như quyền khiếu nại, khiếu tố, quyền được pháp luật bảo vệ, quyền được bảo vệ nhân phẩm, sức khỏe, quyền được khám chữa bệnh, quyền được thư tín, quyền được thăm gặp — tất cả những quyền đó vẫn còn, chỉ là bị hạn chế thôi.
Điều này cần phải nói cho rõ.
Còn về thực tế thì những quyền đó có được tôn trọng không? Theo tôi là không đầy đủ.
Ví dụ quyền thư tín. Tôi vẫn có quyền gửi thư cho gia đình. Nội dung thư sẽ bị trại giam kiểm duyệt, điều đó thì tôi hiểu. Nhưng nếu nội dung không cổ súy bạo lực, không vi phạm gì, thì theo lẽ thường nó phải được gửi đi chứ.
Trong suốt ít nhất hai năm rưỡi ở trại Thanh Hóa, tôi đều đặn gửi thư về cho gia đình. Mỗi lần gửi, cán bộ đều xét duyệt và thông báo với tôi là đã gửi rồi. Nhưng sau này, lần nào gia đình lên thăm tôi hỏi có nhận được thư không, họ cũng nói là chưa. Suốt thời gian đó, gia đình tôi chưa bao giờ nhận được một lá thư nào từ tôi.
Ngược lại, tôi cũng chỉ nhận được duy nhất một lá thư từ cháu gái gửi vào. Ngoài ra không nhận được gì nữa, mặc dù về sau tôi biết có rất nhiều người gửi thư cho tôi.
Tôi cũng không được gọi điện thoại. Trong khi theo quy định, mỗi tháng tù nhân được gọi điện một lần, không quá mười phút. Nhưng tôi chưa bao giờ được gọi điện về nhà. Khi hỏi ra thì họ nói tôi phải nhận tội, phải thành khẩn nhận tội thì mới được gọi. Tôi hỏi luật nào quy định như vậy thì họ nói đây là căn cứ đánh giá cải tạo tốt, ai không nhận tội thì không được gọi.
Tôi không nhận tội gì cả. Cho nên tôi chưa bao giờ được gọi điện về nhà.
Đó mới chỉ là một ví dụ về quyền liên lạc thông tin thôi.
Còn quyền đọc sách, tôi cũng phải tuyệt thực thì mới được nhận sách đọc. Báo chí thì họ cũng không cấp. Ngay cả Báo Nhân Dân mà tôi muốn đọc cũng bị hạn chế. Tôi cũng phải đấu tranh thì mới được nhận.
Ngay cả chuyện băng vệ sinh, tôi cũng phải nói chuyện, phải yêu cầu, phải đấu tranh thì họ mới phát. Những người có gia đình, có tiền gửi vào thì còn tự mua được, chứ người không có gia đình thì lấy đâu ra. Cuối cùng họ phải phát băng vệ sinh cho phụ nữ. Nhưng khi phát băng vệ sinh thì lại cắt mất phần giấy vệ sinh tương ứng. Tức là mọi chuyện rất kỳ cục, kể ra thì rất nhiều.
Nếu hỏi giải pháp để cải thiện điều kiện giam giữ ở Việt Nam là gì, thì theo tôi, ít nhất mỗi người tù phải biết quyền của mình để còn biết nói chuyện, biết đàm phán với cai quản.
Đó là nói về mặt chủ quan.
Còn về mặt khách quan, tôi nghĩ là không có biện pháp nào thực sự hiệu quả nếu cả hệ thống nhà tù vẫn vận hành dưới cùng một cơ chế như vậy. Họ dùng nhà tù để trừng trị con người, chứ không phải để cải tạo hay giáo dục đúng nghĩa.
Tôi chưa cần bàn đến việc người đó có thực sự vi phạm pháp luật hay không, nhưng bản chất họ coi nhà tù là nơi trừng trị. Bộ luật đã rất khắc nghiệt rồi, mà cách thực thi còn khắc nghiệt hơn nữa. Điều đó cho thấy bản thân họ không có thiện chí, không coi trọng việc tôn trọng nhân phẩm, thậm chí là mạng sống của người tù.
Họ không coi người tù là con người đúng nghĩa. Có những người từng nói thẳng rằng tù thì không phải là người nữa. Chỉ riêng câu nói đó thôi, theo tôi, đã đại diện cho bộ mặt của chế độ nhà tù.
Vì vậy, tôi nghĩ không có giải pháp nào ngoài giải pháp thay đổi từ gốc rễ. Còn mọi giải pháp kiểu A, B, C, lộ trình này, kế hoạch kia, theo tôi đều chỉ mang tính hình thức, trên giấy tờ, và không khả thi.
Vấn đề nằm ở thể chế chính trị. Khi nào con người được tôn trọng thật sự, khi nào có một thể chế hợp lòng dân, thì khi đó hệ thống nhà tù mới thay đổi. Còn bây giờ, nói gì cũng dễ thành hình thức.
Nếu đặt ra giả thiết rằng có một tổ chức hay một cơ quan độc lập nào đó được quyền giám sát hệ thống trại giam ở Việt Nam, thì trước hết phải hỏi là Việt Nam có cho phép điều đó hay không.
Mà giả sử có cho phép, thì câu hỏi tiếp theo là: tổ chức đó có được quyền giám sát lâu dài không? Họ có đủ phương tiện để giám sát thật sự không? Việc giám sát đó có thực chất không? Và nó được duy trì trong bao lâu?
Nếu mà ví dụ trong năm năm, mười tháng, một tháng, một năm hay hai năm, giả sử Việt Nam cho phép có một cơ chế giám sát nào đó, thì sau thời gian giám sát ấy, chuyện gì sẽ xảy ra?
Và chưa chắc họ đã cho giám sát toàn bộ hệ thống nhà tù. Có khi họ chỉ chọn một nơi thí điểm. Mà nếu như vậy thì họ hoàn toàn có thể nhét hết những “con ông cháu cha”, những người có tiền vào đó, rồi cho đoàn xuống giám sát. Khi ấy, kết quả giám sát cũng bằng không. Thậm chí còn nguy hiểm hơn nữa, bởi vì những nhà tù khác vẫn cứ đàn áp con người như cũ.
Tôi nghĩ tốt hơn hết là cứ để mọi thứ hiện ra đúng như bản chất của nó, như nó đang diễn ra trong hệ thống đó. Bởi vì nhiều khi bất cứ giải pháp nào cũng chỉ làm tăng khả năng điều khiển theo mong muốn của nhà cầm quyền mà thôi.
Sau khi mãn hạn tù về, tôi chưa cần nói đến chuyện “hòa nhập xã hội” theo nghĩa lý thuyết hay theo giọng tuyên truyền của nhà nước, rằng người ra tù cần được giúp đỡ để làm quen lại với cuộc sống bên ngoài. Tôi chưa cần nói đến những điều đó.
Vấn đề ở đây là khi tôi về, tôi vẫn còn ba năm quản chế. Và ba năm quản chế đó là một dạng khác của sự giam hãm.
Tất nhiên, so với trong tù thì tôi được gặp gia đình, được ăn những gì mình muốn nếu gia đình mang cho hoặc mua cho, được xem tivi, được tự do đọc sách trong nhà. Nhưng sự khủng bố lại biến thể sang một dạng khác, và cái khó khăn đó không khác gì thời gian ở tù.
Ví dụ, khi còn ở trong tù, nếu có chuyện gì xảy ra với tôi thì tôi còn có thể quy trách nhiệm cho một cai tù A hay B. Nhưng khi tôi về rồi, nếu tôi có nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh, thì họ nói rằng tôi đang bị quản chế, đi đâu cũng phải xin phép.
Theo quy định, muốn ra khỏi phường thì phải xin phường. Muốn ra khỏi quận thì phải làm đơn và có sự đồng ý của quận. Muốn ra khỏi thành phố thì phải làm đơn và phải có sự đồng ý trực tiếp của chủ tịch hoặc phó chủ tịch thành phố.
Nghĩa là rất nhiều cơ quan cùng quản lý mình.
Nhưng vì tôi không chấp hành án quản chế theo cách họ muốn, nên trong ba năm đó tôi bị triệu tập trên dưới ba mươi lần, bị áp tải ba lần và bị phạt hai lần vì đi quá phạm vi mà phường cho phép. Những giấy tờ ấy tôi vẫn còn giữ.
Chỉ riêng những điều đó thôi cũng đủ cho thấy rằng đối với một người ra tù, cái án quản chế thực chất là một hình thức giam hãm tiếp nối. Thậm chí, về sau khi hết cả án quản chế rồi, thì về mặt lý thuyết và pháp luật là tôi đã xong. Nhưng về mặt thực tế, tôi vẫn bị canh giữ, vẫn bị ngăn cản quyền tự do đi lại, vẫn bị công an, an ninh, mật vụ đến nhà bất cứ lúc nào để kiểm tra hộ khẩu, không cho bạn bè đến thăm.
Rất nhiều bạn của tôi đã bị đánh chỉ vì đến thăm tôi. Tôi cũng không được đi ra khỏi nhà, vì các thành viên trong gia đình tôi cũng bị đánh.
Khi tôi ở trong tù thì một mình tôi chịu thôi. Nhưng khi ra tù và trong ba năm quản chế ấy, gia đình tôi cũng phải đối mặt với rất nhiều hậu quả từ việc tôi bị quản chế. Thậm chí cháu tôi hay họ hàng ruột thịt ở chung với tôi, đi làm về, mà công an còn hỏi “đây là ai?”, bắt đưa giấy tờ ra kiểm tra, trong khi họ biết thừa.
Cho nên trong ba năm quản chế, tôi phải nói là có những khó khăn không khác gì thời gian ở trong tù.
Nhiều người vẫn hay đùa với những người mãn hạn tù rằng: “Chúc mừng anh chị thoát khỏi nhà tù nhỏ để trở về với nhà tù lớn.” Trong trường hợp của tôi, câu nói đó rất chính xác.
Thậm chí nhiều lúc tôi còn nói rằng trước kia tôi ở trong nhà tù, còn về sau thì họ biến chính căn nhà của tôi thành nhà tù. Ngày trước, tôi gọi nơi mình bị nhốt là nhà tù. Sau này, tôi cảm giác như họ biến chính căn nhà mình đang sống thành lao thất. Họ đứng ngoài canh, không cho tôi ra ngoài, không cho ai vào thăm. Tôi từng nói vui mà thật rằng: “Tư gia biến thành lao thất”, là như vậy.
Nếu hỏi việc ở tù đã ảnh hưởng thế nào đến tâm lý và sức khỏe của tôi, thì đây là một câu hỏi rất lớn. Tôi nghĩ mình cần rất nhiều thời gian mới có thể nói hết.
Dù đã qua rất nhiều năm rồi, nhưng quả thật di chứng tù đày đối với tôi là rất kinh khủng.
Tôi bị tù, rồi sau này lại lấy chồng cũng từng đi tù. Tôi bốn năm, anh ấy mười bốn năm. Cho nên hơn ai hết, chúng tôi hiểu rất rõ hậu quả của tù đày ghê gớm như thế nào, cả về thể xác lẫn tinh thần.
Về tinh thần thì không thể đong đếm được. Những điều đó chỉ những người thực sự sống gần mình, ở cạnh mình lâu năm, như mẹ tôi ngày trước, hay sau này là chồng tôi, mới thấy được.
Còn về sức khỏe, về thể chất, thì rõ ràng là tôi mất đi rất nhiều.
Ví dụ, trong thời gian tôi ở Thanh Hóa, họ bắt đóng dấu chữ “phạm nhân” lên quần áo. Nhưng tôi không cho. Tôi nói một là đóng dấu “tù nhân”, còn hai là nếu đóng dấu chữ “phạm nhân” thì tôi không chấp nhận. Tôi không phải là người phạm tội, nên tôi không cho phép họ đóng dấu như vậy.
Vì thế, tôi không được nhận quần áo từ gia đình. Công an cũng không phát thêm quần áo cho tôi, vì nếu phát thì phải đóng dấu. Tôi không chịu, nên suốt hai ba mùa đông ở Thanh Hóa, tôi chỉ mặc những bộ quần áo cũ mình đã có từ trước.
Mà anh biết rồi, Thanh Hóa khắc nghiệt như thế nào. Mùa đông rất lạnh. Tắm thì tắm ngoài trời, không có mái che, không có gì chắn gió cả.
Sức khỏe của tôi vì thế rất tệ. Đến tận bây giờ vẫn còn ảnh hưởng. Kể cả khi sống ngoài này, mùa hè ở Sài Gòn nóng như vậy, mà hôm nào trời mưa là tôi phải đi hai ba đôi tất, không có một đôi giày nào mà chân vẫn không lạnh.
Suốt ba năm bị quản chế ở Hải Phòng, tôi liên tục phải đi bệnh viện vì sức khỏe xuống dốc do những năm tháng nằm trên nền xi măng, bệ xi măng. Họ chỉ rải một cái chiếu rất nhỏ, mỏng, vậy thôi.
Sau khi chuyển sang Nam Thanh Hóa, họ lại không cho tôi tự làm những cái nệm bằng chăn để lót phía dưới nằm, mà bắt nằm trực tiếp trên chiếu. Tôi đã phải tuyệt thực để đấu tranh chuyện đó.
Tôi không được nhận quần áo, nên về sau có một người tù, mọi người gọi là một bà “bị thần kinh”, đã giúp tôi. Bình thường thì tôi vẫn nhớ tên bà, nhưng giờ tự nhiên lại quên mất họ. Bà ấy là phụ nữ, có mấy người con trai ở ngoài. Mọi người nói bà bị thần kinh, nhưng tôi không nghĩ như vậy. Tôi nghĩ bà rất tỉnh táo. Có thể bà dựa vào cái tiếng “bị thần kinh” của mình để có thể giúp đỡ người khác.
Bà ấy cho tôi quần áo. Nhưng thật ra đó không hẳn là quần áo đúng nghĩa, mà chỉ là những mảnh vải, những thứ khoác tạm lên người. Tôi khoác như vậy để qua mùa đông.
Đó là những chuyện ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của tôi. Nóng thì còn có thể chịu được, nhưng lạnh thì gần như tôi không chịu nổi.
Về những kỷ niệm đáng nhớ nhất trong thời gian bị giam giữ, thì câu chuyện đó là một trong những kỷ niệm rất cảm động. Trong cuốn sách của tôi, tôi chưa có dịp kể lại, nhưng các câu hỏi làm tôi nhớ ra.
Ngoài ra còn có một câu chuyện khác nữa.
Tôi vẫn nghĩ rằng nhà tù có thể lấy đi thời gian của mình, lấy đi sức khỏe của mình, thậm chí làm mai một đầu óc, mai một kiến thức của mình. Nhưng có một thứ nó không thể lấy được, nếu mình không để mất, đó là ý chí.
Thời gian thì mình không quyết định được. Nhưng ý chí thì mình quyết định được.
Và còn một thứ nữa: nếu mình không chiến đấu thì nó sẽ lấy mất luôn cả tri thức của mình. Trong tù họ không cho đọc sách, đọc báo. Cho nên tôi cứ dặn gia đình phải gửi sách, gửi báo vào. Nhưng gia đình tôi cũng hay quên. Mấy bà chị thì cứ nghĩ lo tiếp tế đồ ăn là đủ. Tôi phải nói mãi rằng phải gửi sách vào, nếu không thì ở trong đó đầu óc mình sẽ hỏng mất.
Cuối cùng, có khi gia đình gửi rồi mà cai tù cũng không đưa. Họ cứ nói là “làm việc sau”, “để sau”, nên tôi cũng phải tuyệt thực để đòi.
Trong thời gian ở tù, tôi quen một chị tên là chị Hương, tôi vẫn gọi là chị Hương Môn. Chồng chị ấy là một đại tử tù, là người dính một vụ án rất khủng khiếp, thuộc giới giang hồ. Nhưng riêng chị Hương lại là người rất thích đọc sách, lại có điều kiện kinh tế.
Khi chị được chuyển vào trại 5 Thanh Hóa, có thể nói chị là một người rất “có tiếng” trong tù vì có tiền. Ngoài xã hội thì có tiền, vào tù người ta cũng biết.
Về sau chị kể với tôi rằng ngay từ lúc mới vào, cán bộ đã nhắc chị là không được chơi với tôi. Chị ấy đâu biết tôi là ai, nên khi nghe họ nói “không được chơi với Phạm T.N.” thì chị còn ngạc nhiên, cứ hỏi “Nghiên là ai?”.
Sau đó chị làm quen với tôi. Vì chị rất mê đọc sách, lại có rất nhiều sách, nên trong lúc gia đình tôi gửi sách vào khó khăn, thì chị cho tôi mượn sách. Chị là người rất yêu sách, chỉ cần nghe nói đọc là chị cho mượn, không sợ gì cả, mặc dù biết là có thể bị cấm đoán.
Chị sống rất khỏe trong tù, một phần cũng vì cái tính ngang tàng của chị. Chị cho tôi mượn rất nhiều sách. Có lần chị còn nói, đại ý là càng bị cấm đoán thì chị càng không thích, càng muốn làm.
Tôi thì thường cố gắng chủ động tránh cho người khác khỏi bị liên lụy. Nhưng chị thì lại nhờ người khác chuyển giúp.
Tôi nhớ người hay liên lạc giữa tôi và chị Hương là một bé tên Hà. Sau này tôi biết là Hà cũng bị đòn vì chuyện đó.
Có lần chị Hương lại cho tôi mượn sách, giúp đỡ tôi rất nhiều. Mấy hôm sau tôi không thấy chị đâu. Bé Hà mới nói là chị Hương bị ghi kỷ luật rồi.
Thông thường những vụ kỷ luật như vậy, cai tù sẽ đọc trên loa hoặc thông báo công khai. Nhưng trường hợp của chị Hương thì họ không đọc. Có lẽ họ không muốn lộ ra.
Sau đó chị gầy đi trông thấy. Trong tù có rất nhiều hình thức hành hạ ghê gớm như vậy.
Tôi luôn cảm thấy đó là một trong những câu chuyện khiến tôi ân hận nhất. Vì người ta tốt với mình, tin mình, mà lại bị liên lụy vì mình.
Sau này, khi ra tù rồi, tôi vẫn còn nghĩ đến chuyện đó nhiều lần.
Bé Hà thì vẫn còn liên lạc kiểu rất đặc biệt. Trong tù, họ có ngôn ngữ riêng của họ. Họ trèo lên cửa phòng giam để giao tiếp với nhau bằng cách vẫy tay, vẽ chữ bằng ngón tay trong không khí. Tôi không làm những chuyện ấy, nhưng họ thì có. Và Hà có nhắn với tôi rằng: “Nghiên đừng buồn, cái này không phải lỗi của Nghiên.”
Nhắc lại bây giờ tôi mới nhớ ra rằng những chuyện này tôi chưa viết.
Nếu hỏi trong suốt quãng thời gian bị giam giữ, tôi nhớ ai nhất ở ngoài xã hội, thì đương nhiên là mẹ tôi.
Tôi nhớ nhiều người, nhưng người làm cho mình nhớ nhiều nhất vẫn là mẹ. Tôi không sợ công an, không sợ tù tội bằng nỗi sợ cho mẹ mình. Khi tôi bị bắt đi tù thì lúc đó mẹ tôi rất bệnh.
Điều giúp tôi vượt qua quãng thời gian giam giữ ấy, trước hết là tôi luôn khẳng định với chính mình rằng những việc tôi làm là đúng, là chính nghĩa và cần thiết.
Chính sức mạnh tinh thần đó, sức mạnh nội tâm đó, đã giúp tôi chiến thắng.
Bởi vì khi một người làm việc gì mà không chắc mình đúng, vẫn còn nghi ngờ bản thân, còn hoài nghi về lựa chọn của mình, thì khi rơi vào vòng lao lý, đối diện với những người của nhà nước — công an, điều tra viên, tòa án — là những người được đào tạo rất bài bản trong việc đánh gục ý chí người khác, thì rất dễ sụp đổ.
Nếu mình không có sức mạnh nội tâm, không có sức mạnh tinh thần, không có lý tưởng, thì sẽ không thể vượt qua được.
Tôi phải khẳng định là lý tưởng rất quan trọng. Nếu mình không chắc đây là con đường đúng, không chắc việc mình làm là đúng, là cần thiết, là phải làm, thì rất dễ nảy sinh cái tâm lý của một người phạm tội. Mà nếu đã thấy mình như một kẻ có tội, thì chỉ cần một chút áp lực nữa thôi là mình thua.
Cho nên trong suốt thời gian đó, tôi luôn luôn tâm niệm rằng việc mình làm là đúng.
Mặc dù lúc ấy tôi chưa biết đến Chúa Giêsu, chưa biết đến Công giáo, nhưng khi bắt đầu dấn thân vào công việc này, đặc biệt là khi bước chân vào tù, tự nhiên tôi lại nghĩ rằng đây là điều mà ơn trên chọn cho mình.
Có thể điều này nghe có màu sắc tôn giáo, nhưng anh hỏi thì tôi phải nói thật. Đó là sự thật.
Kể cả sau này, khi mọi người hỏi tại sao một người như tôi — khi đi tù chỉ khoảng ba mươi sáu ký, sức khỏe rất yếu — mà vẫn có thể vượt qua được, thì tôi nghĩ là một phần đến từ sức mạnh nội tâm của mình. Chỉ một phần thôi. Còn một phần nữa, theo niềm tin của tôi, là đến từ Thiên Chúa.
Tôi nghĩ rằng mình làm những việc chính nghĩa này là có ơn trên nâng đỡ. Khi mình tin đây là việc tốt đẹp, mình làm vì cộng đồng, vì dân tộc, vì tiền nhân và vì hậu thế, thì tự nhiên mình có sức mạnh tinh thần để vượt qua tất cả.
Còn nếu mình không tin mình đúng, vẫn còn hoài nghi, vẫn còn quá nhiều vướng bận và sợ mất, thì sẽ không làm được.
Khi bước chân vào tù, tôi thậm chí xác định là có thể chết. Mà khi một người đã xác định đến mức đó, thì rất khó để họ bị bẻ gãy ý chí.
Tất nhiên, cũng phải nói thật là án tù của tôi có thể chưa khắc nghiệt bằng nhiều anh em khác. Tôi không bị đánh đập, không bị tra tấn thể xác. Nếu tôi bị tra tấn, bị đánh đập dã man thì tôi cũng không dám nói trước là mình có vượt qua nổi không. Nhưng ít nhất, thứ nhất là tôi có sức mạnh tinh thần, có nội tâm đủ vững để tin rằng việc mình làm là đúng. Thứ hai là án tù của tôi, dù nặng, nhưng có lẽ vẫn chưa đến mức tận cùng nhất.
Nếu bây giờ được nói lại điều gì đó với quản giáo hay giám thị trại giam, thì tôi không nói thay người khác, tôi chỉ nói cho riêng tôi thôi.
Tôi không hề căm thù họ.
Tôi không căm ghét họ. Nhưng con người có những lúc không được lựa chọn, và có những lúc được lựa chọn. Đặc biệt, có một điều luôn luôn nằm trong lựa chọn của mỗi người, đó là lựa chọn giữa thiện và ác.
Người ta có thể chọn cái ác, và người ta cũng có thể chọn cái thiện. Điều đó hoàn toàn nằm trong quyết định của mỗi con người.
Tôi nhắc lại: tôi không căm thù họ. Tôi làm những việc này từ trước, cả khi đi tù, và ngay cả khi họ bỏ tù tôi, giam cầm tôi, ngược đãi tôi, thậm chí nếu họ có đánh đập tôi nữa, thì tôi cũng không căm thù họ.
Nhưng tôi chỉ muốn nói với họ rằng tôi tiếc cho họ — tiếc vì sao họ đã không lựa chọn điều thiện mà lại lựa chọn điều ác.
Last updated: 23/7/2026

