Đầu tiên, Tôi hoàn toàn đồng ý với dự án. Phía dự án có toàn quyền sử dụng hình ảnh và thông tin của tôi. Tôi cũng đồng ý cho ghi âm hoặc ghi chép lại để phục vụ cho truyền thông hoặc nghiên cứu. Tôi xin kể lại câu chuyện của mình như sau. Năm 2018, lúc đó tôi đang là giáo viên của một trường tiểu học và trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Thời điểm ấy, tại địa phương tôi có một trạm BOT giao thông chắn ngang qua quốc lộ 10, tên là BOT Tân Đệ. Sau khi người dân trong khu vực chúng tôi tập trung lên phản đối trạm BOT đó, thì mới lộ ra một sự thật rằng họ đã thu phí quá hạn trong suốt một thời gian rất dài. Thực tế, BOT này được đặt ra để thu phí cho cầu Tân Đệ, cây cầu được xây dựng từ năm 2002 và lẽ ra phải hoàn vốn từ năm 2009. Tức là trong vòng bảy năm là họ phải hoàn phí. Nhưng đến tận năm 2018, khi chúng tôi bắt đầu phản đối các trạm BOT, thì trạm này vẫn còn hoạt động và đã thu quá thời hạn hơn chục năm. Chúng tôi tập trung phản đối, và sau đó họ buộc phải dỡ bỏ trạm thu phí Tân Đệ. Nhưng sau khi trạm này bị dỡ bỏ, rất nhiều nguồn tin đã được gửi đến cho tôi, cũng như cho những anh em khác cùng phản đối BOT. Từ đó, chúng tôi phát hiện ra rằng sai phạm không chỉ nằm ở một BOT, mà là nằm trong cả một hệ thống BOT trên toàn quốc. Tôi cùng với nhiều anh em lái xe, tài xế trên khắp cả nước tiếp tục phản đối những BOT sai phạm nghiêm trọng, như BOT T2 Cần Thơ, nơi một cây cầu được xây bằng vốn ODA nhưng sau đó lại bị chặn đường để thu phí; rồi BOT An Sương - An Lạc, đã quá hạn thu phí năm năm; rồi BOT Mỹ Lộc, chỉ làm 3,9 km đường nhưng lại thu phí cho cả một tuyến dài tới 25 km, đồng thời chặn đường không cho dân đi. Sau khi phong trào lớn mạnh, tôi cùng mọi người đã góp phần đánh sập được rất nhiều BOT sai phạm. Họ buộc phải dỡ bỏ hoặc phải mở đường cho dân đi. Đến BOT Bắc Thăng Long - Nội Bài, nằm ở cửa ngõ thủ đô, tức trạm thu phí trên đường Võ Văn Kiệt, dùng để thu cho đường tránh Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, cách đó gần bốn mươi cây số, thì chúng tôi tiếp tục phản đối. Riêng BOT này đã có rất nhiều ý kiến từ Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thanh tra Chính phủ, Hội đồng Nhân dân cũng như Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội lên tiếng về sai phạm của nó. Tuy nhiên, họ vẫn không tiếp thu. Họ cấu kết với chủ doanh nghiệp là Việt Trang Simex 8, mà người đứng đầu doanh nghiệp BOT đó là Võ Nhật T., rồi cấu kết với an ninh Công an thành phố Hà Nội để bắt giam tôi, khởi tố tôi với tội danh gây rối trật tự công cộng. Sau đó, họ cộng thêm một bản án tù cũ của tôi trước đó, tổng hợp hai hình phạt lại và tuyên tôi 42 tháng tù giam. Khi tôi kháng án hoàn toàn bản án đó, yêu cầu tuyên bố tôi vô tội, thì họ tự ý giảm xuống ba tháng, và tổng hình phạt còn lại là 39 tháng tù giam. Tôi bị tạm giam ở trại giam Hỏa Lò, sau đó bị đưa đi thi hành án ở trại giam Ninh Khánh, Hoa Lư, Ninh Bình trong hơn sáu tháng, rồi tiếp tục bị chuyển vào trại giam số 5 ở Lam Sơn, Yên Định, Thanh Hóa. Đó là hành trình mà tôi đã trải qua trong nhà tù cộng sản. Khi mới bị bắt, họ chỉ đọc một lệnh khởi tố rồi đưa tôi từ Thái Bình lên Hà Nội, giam trước tiên ở trại tạm giam của Công an huyện Sóc Sơn. Trong khoảng thời gian đó, gia đình tôi cũng lên gửi đồ và thuê luật sư để tiếp cận, bào chữa cho tôi. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu tôi chưa được gặp luật sư ngay, vì phía an ninh chưa chấp thuận. Sau đó, tôi được đưa lên trại giam số 1 của Bộ Công an, tức trại giam Hỏa Lò ở khu vực Nam Từ Liêm, Hà Nội. Khi đó, gia đình tiếp tục ký hợp đồng với các luật sư bào chữa, và tôi mới được gặp họ để làm việc. Giai đoạn đầu bị bắt thực sự là một cú sốc rất lớn đối với tôi, vì những gì họ làm là quá mức khủng khiếp. Họ khởi tố tôi về tội gây rối trật tự công cộng, nhưng lại huy động một lực lượng cực lớn để bắt giam tôi, gồm an ninh Công an Hà Nội, Công an Nam Định, Công an Thái Bình, trong đó có cả Công an tỉnh Thái Bình, Công an huyện Phụ Dực, Công an thành phố Thái Bình. Tức là một lực lượng rất đông. Họ bắt tôi ở Nam Định, sau đó đưa tôi về Thái Bình để khám nhà. Những gì không liên quan đến hành vi mà họ gán cho tôi là gây rối trật tự công cộng thì họ cũng thu giữ hết. Tất cả giấy tờ tùy thân, giấy tờ công việc làm ăn của tôi trước khi tham gia phản đối BOT, và cả những đồ đạc cá nhân, đều bị phía an ninh mang đi. Lúc đó tôi rất rối bời, lại chỉ có một mình nên không thể kiểm soát được mọi việc. Về sau, người thân mới trao đổi lại với tôi rằng toàn bộ đã bị thu mang đi hết. Họ cũng chỉ lập biên bản cho có thủ tục chứ không hề ghi cụ thể từng thứ một. Có những thứ họ mang đi mà tôi không biết. Thành ra sau khi ra tù, tôi mất toàn bộ giấy tờ tùy thân, giấy tờ làm ăn, giấy tờ gốc. Tôi gần như trắng tay. Trong quá trình tạm giam để điều tra, mỗi lần bị dẫn đi hỏi cung, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì lẽ ra phải có camera giám sát. Nhưng tại trại giam Hỏa Lò, ở thời điểm tôi bị giam, hoàn toàn không có phòng nào được trang bị như vậy. Họ còn hỏi tôi rằng tôi có cần lắp đặt thiết bị đó không thì họ sẽ cho. Nhưng vào thời điểm ấy, tôi đã gần như mất niềm tin vào pháp luật Việt Nam. Tôi nghĩ rằng những việc mình phản ứng đều là quyền lợi chính đáng, vậy mà họ vẫn chà đạp pháp luật để bắt tôi, nên tôi trả lời là không. Mỗi lần đi thẩm vấn, họ kiểm soát cực kỳ kỹ. Là một phụ nữ, tôi còn bị đưa vào khu vực y tế của trại để kiểm soát cơ thể. Họ bắt tôi cởi hết quần áo ra, thậm chí còn dùng tay kiểm tra cả bên trong bộ phận sinh dục để xem tôi có giấu thứ gì không. Và mỗi lần đi ra làm việc cũng vậy, lần nào cũng như lần nào, tôi đều bị dẫn giải trong sự kiểm soát nghiêm ngặt, đồng thời bị buộc không được tiết lộ bất kỳ thông tin nào về trại giam ra ngoài, với an ninh điều tra hay với luật sư. Họ ngồi đó để giám sát và nói thẳng rằng nếu để lọt ra ngoài bất cứ thông tin gì liên quan đến trại giam, thì mọi quyền lợi của tôi sẽ bị cắt hết. Đó là một kiểu đe dọa rất rõ ràng, nhằm buộc mình phải im lặng trước những sai phạm diễn ra bên trong. Về điều kiện sinh hoạt ở trại giam Hỏa Lò, tôi chỉ có thể nói một câu: đó là địa ngục trần gian. Điều đầu tiên là ánh sáng. Trại được xây với bốn lớp tường bảo vệ, khiến cho một người phụ nữ ở trong đó gần như bị thiếu ánh sáng nghiêm trọng. Mỗi buổi sáng, khi có chút ánh sáng le lói lọt vào, chúng tôi phải ngồi sát lên đầu sàn để hứng lấy chút nắng hiếm hoi chiếu vào cơ thể. Nếu không, sẽ thiếu ánh sáng đến mức rất nặng. Không gian trong đó tối và ngột ngạt. Điều thứ hai là việc nhận quà từ gia đình. Theo quy định của pháp luật, người bị tạm giam được nhận những đồ dùng thiết yếu mà gia đình gửi vào. Nhưng ở Hỏa Lò, họ gần như độc quyền toàn bộ thông qua căng tin để làm kinh tế cho trại, nên hầu như tất cả đều buộc phải mua qua căng tin. Giá cả thì đắt gấp ba, gấp bốn ngoài thị trường. Những thứ mình thực sự cần dùng thì không được gửi vào trực tiếp, mà phải thông qua cán bộ quản giáo để mua. Ví dụ, mùa đông muốn có thêm một cái chăn thì cũng phải thông qua quản giáo. Gia đình không được gửi vào, mà trong căng tin nhiều khi cũng không có thứ mình cần. Về nước uống, mỗi ngày họ phát cho mỗi người hai chai Lavie nhỏ vào buổi sáng và hai chai vào buổi chiều. Nhưng thứ nước đó rất đục, nhiều cặn, rất bẩn. Chúng tôi thường phải dùng lớp màng của băng vệ sinh để lọc lại nước rồi mới dám uống. Còn nước sinh hoạt thì được bơm trực tiếp từ giếng khoan, màu vàng, nhiễm sắt nặng. Móng tay, móng chân của chúng tôi thường xuyên bị gãy vì chất lượng nước quá tệ. Chúng tôi phải lấy nhiều chiếc tất luồn vào nhau rồi bọc vào đầu vòi nước để lọc bùn cát, ngày nào cũng phải giặt tất để có thứ nước tạm gọi là sạch mà dùng. Còn về đồ ăn thì hầu như tất cả các khẩu phần đều bị bớt xén. Theo Luật Thi hành án hình sự, người bị tạm giam vẫn có một định lượng rau hàng tháng. Nhưng trên thực tế, mỗi ngày chúng tôi chỉ nhận được rất ít. Ví dụ rau muống thì chỉ được một cuộn nhỏ, mà vừa ăn vừa phải rửa lại bằng chính thứ nước rau đó để gột cát, gột bùn đi vì rau rất bẩn. Những thực phẩm được cấp phát vào trại gần như đều phải tự xử lý lại mới ăn được. Tôm thì còn tạm chấp nhận được, nhưng rau, thịt, cá đều bị cắt xén. Những vật dụng cá nhân như kem đánh răng, bàn chải, khăn mặt cũng bị bớt gần như hết. Buồng giam thì muốn vào phải đi qua một hành lang rất dài, tường cao, phía trên được che kín bằng những song sắt lớn. Qua hành lang đó là đến một khu mà tù nhân hay gọi là “chuồng chó”, tức là chỗ để đồ. Toàn bộ đồ đạc cá nhân, kể cả thức ăn, nước uống, đều phải để ngoài đó. Khi nào họ mở cửa buồng giam thì mới được ra lấy đồ vào. Còn nếu họ khóa, thì toàn bộ đồ ăn cũng bị khóa luôn ở ngoài. Từ đó mới đi vào buồng giam. Cấu trúc buồng giam ở Việt Nam gần như giống nhau: hai bệ bê tông cao ở hai bên, ở giữa là một rãnh đi lại. Tất cả phạm nhân nằm trên hai bệ đó. Nhà vệ sinh thì nằm ngay trong buồng, chỉ được ngăn bằng một bức tường thấp khoảng ngang ngực, không có cửa. Người này đi vệ sinh thì người khác vẫn nhìn thấy hết. Diện tích buồng giam vào khoảng bốn mươi đến năm mươi mét vuông, tôi chỉ có thể ước lượng như vậy. Theo luật, mỗi phạm nhân phải có hai mét vuông, tức là rộng một mét, dài hai mét. Nhưng vì quá đông, có lúc mỗi người chỉ được khoảng sáu mươi phân chiều ngang để nằm. Cao điểm nhất, buồng tôi lên tới ba mươi lăm phạm nhân. Trong khi đó, cả buồng ở Hỏa Lò chỉ có đúng một cái quạt trần, không cho dùng quạt cá nhân. Mùa hè, họ đặt thêm một cái quạt công nghiệp ngoài hành lang, thốc gió vào trong. Tiếng quạt ồn đến mức ù tai. Tắt quạt đi thì ai cũng như bị ù hết cả tai. Khi tôi chuyển sang trại Ninh Khánh thì điều kiện buồng giam cũng chật chội không khác mấy so với Hỏa Lò. Tuy nhiên, điểm khác là ở Hỏa Lò, vì là tạm giam, nên chúng tôi không được ra ngoài sinh hoạt. Còn ở các trại lao động thì phạm nhân được ra ngoài ăn uống, sinh hoạt, chỉ đến giờ điểm buồng mới phải vào lại. Nhưng trại Ninh Khánh lại không xây dựng khu sinh hoạt chung đủ điều kiện, nên việc ăn uống và sinh hoạt rất khổ sở. Chúng tôi phải tranh nhau từng chỗ ngồi, kể cả ngồi tạm trên bệ xí hay chỗ gần cống thoát nước, miễn sao có thể che chắn được để sinh hoạt. Về sách vở, thư từ và tiếp cận thông tin từ bên ngoài thì ở trại tạm giam gần như không có gì cả. Luật sư Lê Đình V. đã làm đủ mọi cách để gửi cho tôi năm cuốn sách luật vào trong, nhưng họ không cho mang vào buồng giam. Chỉ khi nào tôi cần tra cứu điều gì thì mới được ký nhận mang vào tạm thời. Nhưng đó là cách họ đối xử với tôi, vì họ coi tôi là một người có ảnh hưởng trên mạng xã hội, là tù nhân chính trị. Còn với phạm nhân thông thường, chỉ cần có tiền là mua được đủ thứ. Có người bỏ ra năm triệu, mười triệu để mua sách thì quản giáo mang vào tận nơi. Riêng tôi, mọi quyền như vậy đều bị hạn chế. Lên các trại lao động như Ninh Khánh hay trại số 5 thì có thư viện, nhưng mỗi lần tôi lên thư viện đều có cán bộ đi kèm. Họ chỉ cho tôi đọc những cuốn mang tính giải trí, còn những thứ liên quan đến luật thì bị hạn chế. Gia đình gửi sách vào cũng bị kiểm soát rất chặt, gần như không được duyệt. Việc thăm gặp và gửi đồ của gia đình đối với tôi cũng bị kiểm soát đặc biệt hơn rất nhiều so với tù hình sự thông thường. Ở Hỏa Lò, tôi biết rõ rằng những người án kinh tế hay những loại án khác vẫn nhận đồ rất thoải mái. Ở đó, cái gì cũng có giá của nó. Muốn gửi một bức thư ra ngoài thì một triệu đồng. Muốn xách một túi quà vào thì một triệu đồng. Muốn đưa cả chăn dày vào mùa đông cũng được, miễn là có tiền cho quản giáo. Nhưng với gia đình tôi thì hoàn toàn không thể làm như vậy. Trong khi đó, họ lại buộc tôi phải mua mọi thứ qua căng tin, mà đồ trong căng tin thì vừa thiếu vừa không đảm bảo. Ví dụ chăn chỉ là loại rất mỏng, không đủ ấm, nhưng họ cũng không cho gia đình gửi chăn vào. Ở trại Ninh Khánh tôi còn nhận được một phần đồ. Nhưng đến trại giam số 5 thì họ bóc hết đồ gia đình gửi, gửi trả về, không cho tôi nhận. Thậm chí bố tôi vào tận nơi để thăm gặp. Trong khi các phạm nhân khác được gặp, thì gia đình tôi lại bị cấm. Họ không nói rõ lý do. Họ chỉ nói với gia đình tôi rằng, nếu gia đình động viên tôi nhận tội, chấp hành tốt theo ý họ thì mọi việc sẽ dễ dàng hơn. Nhưng tôi không nhận tội. Tôi cho rằng những việc mình làm là chính nghĩa. Ở trại Ninh Khánh, họ còn đưa ra điều kiện rằng nếu tôi viết đơn nhận tội thì sẽ được giảm tới tám tháng. Nhưng tôi cũng không nhận. Đến trại giam số 5, tôi đấu tranh quá quyết liệt cho quyền lợi của phạm nhân, nhất là về chuyện trại giam cắt xén chế độ, nên họ sợ tôi gặp gia đình sẽ đưa thông tin ra ngoài. Vì thế, họ luôn tìm cách ngăn chặn. Họ không nói với tôi lý do, nhưng lại nói dối rằng gia đình không đến thăm. Mãi đến lúc hết án ra ngoài, tôi mới biết người nhà đã vào thăm rất nhiều lần mà không được gặp. Một ngày trong trại giam diễn ra rất căng thẳng. Vào mùa hè, khoảng năm giờ sáng là phạm nhân phải thức dậy. Sau đó gấp chăn màn, chờ quản giáo mở cửa buồng để ra ngoài điểm người. Tiếp đến là một khoảng rất ngắn để ăn sáng, lấy cơm, dọn dẹp. Khoảng sáu giờ kém mười lăm là phải xếp hàng điểm danh, rồi đi ra khu lao động. Một ngày phải làm đủ tám tiếng thực sự, chưa kể thời gian đi và về. Trưa lại điểm danh, về trại ăn uống, bị khóa buồng, rồi chiều lại tiếp tục đi làm. Mùa đông thì dậy muộn hơn một chút, nhưng cũng chỉ khoảng năm rưỡi. Tất cả đều bị ép rất căng. Hết giờ làm, mọi người lại lao đi tranh nhau chút nước để tắm rửa cho kịp giờ ăn, rồi lại phải vào buồng theo giờ điểm buồng. Đến giờ đó là khóa hết. Khi đã vào buồng rồi thì có muốn ăn gì thêm cũng không được đem vào nữa. Về y tế thì trại nào cũng có một hình thức gọi là khám bệnh. Hỏa Lò thì một tuần khám hai lần vào thứ ba và thứ năm. Các trại lao động thì có khu y tế riêng, ngày nào ai muốn xin thuốc cũng phải xuống xếp hàng. Nhưng tất cả những thứ đó chủ yếu chỉ mang tính hình thức. Điều kiện y tế thực sự rất tệ. Ví dụ như ở trại giam số 5, cả trại gần như không có nổi một máy thở cấp cứu đúng nghĩa. Thuốc men thì thiếu thốn trầm trọng. Trong suốt ba mươi chín tháng tôi đi qua nhiều trại giam, tôi chỉ thấy phổ biến là thuốc đau bụng, thuốc đau đầu, thuốc hạ sốt, thuốc giảm đau. Những bệnh khác muốn được tiêm truyền hay chữa trị thì phạm nhân phải tự bỏ tiền ra. Ở trại số 5, một mũi tiêm thông thường cho phạm nhân bị ốm có giá năm trăm nghìn. Muốn được ra viện điều trị ở khu dành riêng cho phạm nhân thì phải nộp từ mười đến mười lăm triệu cho cán bộ quản giáo hoặc cán bộ y tế. Đi ra rồi, mỗi tháng còn phải nộp thêm để bù cho phần không lao động được trong trại. Ở Ninh Khánh, các phạm nhân nói với tôi rằng đi ra chữa bệnh mất mười lăm triệu, rồi mỗi tháng còn phải nộp thêm mười triệu cho quản giáo. Người có quyền quyết định cho phạm nhân ra ngoài chữa bệnh là trưởng ban giám thị trại giam. Chính họ ký quyết định đó. Và những bệnh viện tiếp nhận cũng là những nơi có khu riêng cho phạm nhân, chứ không phải bệnh viện nào cũng được đưa vào. Về tôn giáo, bản thân tôi không theo tôn giáo nào nên không quan sát sâu ở góc độ đó. Nhưng ở Hỏa Lò, với những phạm nhân hình sự thông thường, tôi thấy một số người theo đạo Thiên Chúa vẫn sinh hoạt cá nhân bình thường. Tuy nhiên, về sau khi biết nhiều hơn về tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị, tôi thấy họ bị đàn áp rất mạnh trong việc thực hành tôn giáo. Trong trại giam không hề có một không gian riêng nào dành cho việc thực hành tín ngưỡng hay nghi thức tôn giáo. Tất cả chỉ là từng người tự làm trong phạm vi cá nhân của mình. Về chuyện biệt giam, kỷ luật hay bị ép lao động quá sức thì trường hợp của tôi có phần khác hơn một chút. Tôi đấu tranh rất quyết liệt, đồng thời có sự hỗ trợ mạnh từ bên ngoài, nên cán bộ quản giáo và ban giám thị cũng dè chừng. Họ tránh ép tôi lao động quá mức, chỉ để tôi làm vừa sức, hoặc nhiều khi cho tôi nghỉ. Tôi nghĩ điều đó là do phía bên ngoài có những người đồng đội luôn theo dõi, nếu có thông tin bất lợi cho tôi thì họ sẵn sàng lên tiếng, thậm chí từng biểu tình ở Hỏa Lò và Ninh Khánh để đòi chế độ cho tôi. Khi ở trong trại, tôi gần như chỉ có một mình trong diện bị quản lý đặc biệt. Họ đối xử với tôi khác hẳn. Một mặt họ rất dè chừng, nhưng mặt khác, những gì họ cắt xén của phạm nhân khác thì lại không dám bớt phần của tôi. Ví dụ họ có thể bớt kem đánh răng, bàn chải của người khác, nhưng phần của tôi thì họ vẫn mang vào đủ. Nhưng về sau, khi số lượng tù nhân lương tâm bị bắt ngày một nhiều hơn, thì sự đàn áp chuyển sang rất dữ dội. Ví dụ như chị Phạm Đoan T. ở cùng thời điểm với tôi tại Hỏa Lò. Tôi ở tầng hai, còn chị ấy ở tầng một. Thông qua những phạm nhân được giao đi đưa cơm, tôi biết chị ấy bị đối xử rất tàn tệ. Chị ấy bị gãy chân, không đi được, phải nhờ các phạm nhân trong buồng dìu đi. Quản giáo thì phân biệt rất rõ: phạm nhân bình thường, nếu có tiền, thì gần như mua được đủ thứ; còn tù nhân chính trị thì chỉ được hưởng những tiêu chuẩn tối thiểu của nhà nước, mọi nhu cầu hỗ trợ từ gia đình đều bị từ chối. Trong trại, họ cô lập tôi. Họ không cho tôi giúp người khác, cũng không cho người khác giúp tôi. Trường hợp chị Phạm Đoan T. cũng vậy, muốn ai được tiếp cận, ai được hỗ trợ đều phải do ban giám thị chỉ định. Với tôi cũng thế, họ thường cài một người thân với công an, kiểu như tay sai cho công an, ở gần để chăm sóc và giám sát, rồi báo cáo lại mọi suy nghĩ, hành vi, lời nói của tôi trong buồng giam. Suốt quá trình chấp hành án, với cá nhân tôi thì họ không trực tiếp tra tấn hay ép cung theo nghĩa bạo lực. Nhưng họ dùng rất nhiều hình thức gây ức chế tinh thần. Ví dụ tôi đã báo rất rõ cho gia đình biết ngày nào có thể vào thăm, vậy mà tuần này qua tuần khác vẫn không thấy ai. Hỏi thì họ nói gia đình không đến. Đến khi gọi điện được về nhà mới biết gia đình vào nhưng không được gặp. Hoặc gia đình gửi đồ vào đúng tiêu chuẩn, họ cũng gọi tôi lên ký nhận, nhưng thực ra là ký để gửi trả về chứ không phải để nhận. Họ biết tôi thích đọc sách thì thu sạch sách khỏi buồng, không cho ai trong buồng đọc luôn, vì sợ người khác sẽ cho tôi mượn. Mỗi lần tôi lên thư viện thì họ kè kè ngồi cạnh để tạo áp lực tinh thần. Tôi xin bất cứ thứ gì cũng bị gây khó. Những chế độ lẽ ra phải được đảm bảo thì họ lại biến thành công cụ để hành hạ tinh thần, đến mức khiến mình hoảng loạn. Tôi đã chứng kiến rất nhiều trường hợp khác bị ép cung, bị đánh đập, bị gài bẫy. Chính vì tôi biết quá nhiều chuyện như vậy nên tôi đấu tranh rất kiên cường cho những phạm nhân khác, và cũng vì thế mà tôi bị chuyển qua ba trại giam. Nếu không thì đáng ra chỉ từ trại tạm giam sang một trại lao động là hết. Có những người bị gài bẫy trong các vụ án ma túy. Ví dụ có người chỉ cho vay tiền, hoàn toàn không biết người vay dùng tiền đó để buôn ma túy, nhưng khi bị bắt thì người vay khai rằng đã vay tiền để làm ăn. Điều tra viên ghi lại, bắt ký vào, rồi cuối cùng người cho vay bị quy thành tiếp tay cho buôn bán ma túy và bị tuyên án chung thân. Hiện chị Trịnh Kim H. vẫn còn ở trại giam số 5 với mức án đó. Còn rất nhiều vụ khác. Nhiều phạm nhân kể rằng nếu không nhận tội thì bị đánh. Có người bị siết cả một cánh tay. Có người chỉ vì vô tình đi cùng với người yêu buôn ma túy mà cũng bị kéo lê trên mặt đường ở Hà Nội, bị đánh đập, bị bắt nhận là có liên quan, rồi phải chịu bảy năm tù. Như trường hợp cô H., cô ấy không hề buôn bán ma túy nhưng vẫn bị như vậy. Những vụ như thế rất nhiều. Họ đánh theo chỉ tiêu. Tôi ở trại Ninh Khánh được mười sáu tháng, từ ngày 31 tháng 10 năm 2020 đến tháng 6 thì bị chuyển trại rất đột ngột. Họ không nói lý do, nhưng tôi tự hiểu. Một buổi sáng sớm, chưa đến năm giờ, loa gọi toàn bộ phạm nhân ra sân tập hợp. Khi tôi ra đến nơi thì thấy gần như toàn bộ cán bộ của cả trại giam đều có mặt, rất đông, lên đến hàng mấy trăm chiến sĩ công an, bao vây kín khu vực. Hai người đến xốc nách tôi, đọc quyết định chuyển trại, nhưng cũng không nói rõ là chuyển đi đâu. Sau đó họ đưa tôi vào khám người, lột hết quần áo, khám cả bộ phận kín, rồi mặc lại và áp giải lên xe. Mãi đến lúc tới nơi tôi mới biết mình bị chuyển vào trại số 5. Tôi hiểu rằng ở trại Ninh Khánh, tôi đã nhìn thấy và phản ánh quá nhiều bất cập: chuyện ăn chặn tiền của phạm nhân, chuyện phải nộp tiền mới được đi chữa bệnh, chuyện cắt xén các chế độ. Căng nhất là thời điểm Cục C10 về kiểm tra tình hình lao động của phạm nhân. Trại giam bắt phạm nhân làm vượt xa định mức. Ví dụ một phạm nhân học nghề lẽ ra chỉ phải làm 30 sản phẩm, nhưng ở Ninh Khánh họ bắt làm tới 120 sản phẩm, tức gấp ba, gấp bốn lần. Tôi đã trực tiếp phản ánh việc đó với Cục C10. Có lẽ vì vậy mà họ không muốn tôi tiếp tục ở lại trại đó. Trong trại giam, gần như mọi quyết định đều nằm trong tay trưởng ban giám thị. Từ đó phân xuống các phó ban giám thị ở từng phân trại. Họ là những người nắm toàn bộ quyền quyết định liên quan đến phạm nhân. Tôi vẫn thường nói trên YouTube của mình rằng một trưởng ban giám thị gần như là một ông vua con trong lãnh địa riêng của mình. Không hề có một cơ chế giám sát độc lập thực sự từ bên ngoài. Có các đoàn kiểm tra, đoàn viện kiểm sát, đoàn của Cục C10 đến giám sát, nhưng phần lớn chỉ là hình thức. Mỗi lần có đoàn vào thì trại lại diễn trò. Ví dụ như trại giam số 5 không hề đảm bảo cho phạm nhân quyền được thể dục thể thao, nhưng khi có đoàn về thì họ tổ chức cho phạm nhân cầm vợt, đánh bóng chuyền, đánh cầu lông, đá bóng để che mắt. Còn thực tế thì hoàn toàn không có. Những ý kiến khiếu nại, phản ánh hay đề nghị hỗ trợ của tôi đều phải đi qua rất nhiều tầng kiểm soát. Đầu tiên là đội trưởng trinh sát của phân trại, sau đó lên phó ban giám thị, rồi mới tới trưởng ban giám thị. Nhưng việc đơn có được chuyển đi hay không, có được giải quyết hay không, hoàn toàn phụ thuộc vào phía họ. Mình cũng không được trực tiếp đi nộp đơn. Tất cả chỉ là hình thức. Theo tôi, muốn cải thiện điều kiện giam giữ ở Việt Nam thì bắt buộc phải có một cơ chế giám sát độc lập. Hiện tại, ngay cả một người có chức cao ở Cục C10 muốn vào kiểm tra trại giam cũng phải thông qua trưởng ban giám thị. Mà một khi phải thông qua như vậy thì trại đã biết trước lịch, đã chuẩn bị hết, đã sắp xếp mọi thứ theo ý họ. Bản thân tôi, cứ đến ngày có đoàn kiểm tra là họ cất tôi đi, đưa tôi lên một phòng riêng ngồi uống nước, không cho tôi tiếp xúc với đoàn. Nếu không có một cơ quan độc lập, được quyền vào trại giam bất ngờ và tiếp xúc trực tiếp với phạm nhân, thì gần như không thể thay đổi gì. Nó giống như một lãnh địa riêng của một ông vua, bà chúa, gần như bất khả xâm phạm. Khi mãn hạn tù trở về, ngay ngày đầu tiên họ cũng không đưa tôi ra cổng trại để gia đình đón. Họ chở tôi ra cách đó mấy chục cây số, bỏ lại bên đường trong một ngày mưa rét, để gia đình phải đi tìm mới đón được tôi về. Sau đó tôi lên thi hành án huyện Sóc Sơn để xin lại giấy tờ theo quy định, nhưng họ gây khó dễ và không trả lại cho tôi bất cứ thứ gì. Đến tận bây giờ tôi vẫn chưa nhận lại được. Các chế độ bảo hiểm trong suốt mười sáu năm tôi đi dạy cũng bị gây khó. Tiền trợ cấp thất nghiệp gần bốn mươi triệu thì họ bảo là tôi nộp đơn quá hạn nên không giải quyết. Những giấy tờ làm ăn, giấy tờ gốc liên quan đến các khoản vay nợ mà phía thi hành án huyện Sóc Sơn đã giữ cũng không trả lại. Tôi mất toàn bộ giấy tờ gốc, không thể thu hồi vốn liếng của mình trước khi đi tù. Sau khi ra tù, tôi còn thường xuyên bị an ninh theo dõi, kiểm soát từng bước đi, từng nơi ăn chốn ở. Tôi đã bị bắt lại hai lần trước khi phải chạy trốn. Về phía chính quyền địa phương, theo quy định mới thì những người mãn hạn tù được phép vay vốn để làm ăn, phát triển kinh tế. Năm 2023, tại xã tôi có sáu người cùng thời điểm mãn hạn tù, thì năm người được nhà nước cho vay vốn. Chỉ riêng tôi, dù có đầy đủ hộ khẩu, có bố mẹ bảo lãnh, có uy tín với làng xóm, thì vẫn không được duyệt. Còn phía bạn bè, người thân thì đều hiểu rằng những việc tôi làm là chính nghĩa, nên họ hỗ trợ tôi rất nhiều. Nhờ vậy tôi vẫn tiếp tục làm ăn và ổn định dần cuộc sống. Ba mươi chín tháng tù đã ảnh hưởng rất nặng nề đến sức khỏe của tôi. Trời mưa, gió rét vẫn phải tắm bằng nước lạnh, không có mái che. Tất cả những trại giam mà tôi đi qua đều không có mái che cho khu vực tắm rửa. Phụ nữ gần như phải khỏa thân mà tắm giữa trời mưa gió như thế. Điều đó làm sức khỏe suy giảm rất nhanh. Trong suốt thời gian ở tù, gia đình tha thiết gửi cho tôi thuốc canxi để hỗ trợ xương và răng, nhưng cũng không được nhận. Nước uống ở các khu trại giam phần lớn nằm trong vùng núi đá vôi nên làm tôi hỏng gần như toàn bộ hàm răng: mẻ, rụng, đau hết. Sau khi ra tù tôi phải làm lại gần như cả bộ răng. Tôi cũng không được điều trị kịp thời bệnh viêm họng mãn tính. Vì thời gian ở tù quá dài, bệnh chuyển nặng. Ra tù, tôi phải mổ do u thanh quản bị viêm rất nặng. Lúc đó tôi không có giấy tờ tùy thân, không mua được bảo hiểm, nên phải điều trị hoàn toàn theo dạng dịch vụ, rất tốn kém đối với một người vừa mới ra tù. Về tinh thần thì tôi may mắn là người có ý chí khá bền bỉ. Nhưng ngay cả như vậy, tôi vẫn luôn sống trong trạng thái giật mình, không biết khi nào sẽ bị bắt lại, khi nào còn được tự do. Nên cả sức khỏe lẫn tinh thần đều bị ảnh hưởng sâu sắc. Kỷ niệm khiến tôi nhớ nhất là ngày tôi ra tòa từ trại giam Hỏa Lò. Hôm đó có tới hai mươi tám cán bộ quản giáo nữ ở khu giam nữ ra vẫy tay chào tôi và nói: “Tạm biệt chị Nguyệt Như, mong là chị vô tội.” Để có được tình cảm ấy, tôi hiểu rằng chính những người quản giáo trong trại cũng nhận thức rất rõ việc chúng tôi phản đối BOT là chính nghĩa. Họ biết tôi bị bắt là vì sự trả thù của một doanh nghiệp lớn có cấu kết với các quan chức trong bộ máy nhà nước. Họ vẫn ở phía đối lập với tôi về vị trí, vẫn là những người quản lý tôi, nhưng họ cũng có nhận thức về đúng sai. Có người còn lén đưa cho tôi những thông tin từ bên ngoài, báo rằng thêm một trạm BOT nữa đã bị người dân phá bỏ, hay báo chí đang nói gì. Điều giúp tôi giữ vững tinh thần là trước hết tôi có một niềm tin rằng đất nước này rồi sẽ phải thay đổi. Thứ hai là tôi có những người đồng đội ở bên ngoài, rất gắn bó với tôi trong quá trình đấu tranh chống BOT, và họ luôn sẵn sàng lên tiếng nếu có bất kỳ thông tin bất lợi nào về tôi từ bên trong trại giam. Thứ ba là tôi xác định rất rõ lập trường của mình: mình làm điều chính nghĩa thì không thể lùi bước. Tôi không bao giờ đánh đổi bằng cách nhận tội chỉ để được giảm vài tháng tù. Chính hoàn cảnh đã bộc lộ ra ý chí của tôi. Nếu được nhắn gửi một điều gì đó tới những người quản giáo, giám thị, những người đang quản lý trại giam, thì tôi chỉ muốn nói rằng trong suốt quá trình đi tù, tôi cũng ghi nhận có những cá nhân quản giáo rất có tình người. Có những cô quản giáo ở Hỏa Lò thường xuyên cho tôi biết tin bên ngoài, và nói rằng việc đấu tranh của tôi là đáng ngưỡng mộ. Nhưng họ ở trong một guồng máy mà nếu không tiếp tục làm việc thì chính họ cũng sẽ bị đào thải. Vì vậy, nếu phải thay đổi thì phải thay đổi toàn diện cả hệ thống, chứ không chỉ dừng lại ở một trại giam nào. Đó là một hệ thống quá thối nát, che chắn cho nhau. Tôi chỉ muốn nhắn gửi đến các cán bộ quản giáo rằng những con người bước vào trại giam, dù có phạm tội hay không, thì họ cũng vẫn mong được hoàn lương, được đối xử như con người. Các trại giam nên tăng cường cho phạm nhân học pháp luật để họ hiểu biết hơn, chứ không phải chỉ ép họ lao động để khai thác sức lao động và thân xác của họ, để rồi khi ra tù họ vẫn tiếp tục mù mờ về pháp luật và dễ tiếp tục rơi vào sai phạm.

