Phân tích cấu trúc · thử nghiệmHai lần bị kết án · ~7 năm · 6 trại giamDòng thời gian · sự việc bạo lực · bản đồ buồng giam
Phân tích cấu trúc · thử nghiệm
Hai lần bị kết án · ~7 năm · 6 trại giam
Người kể Đ.H.C.Dân tộc KinhGiới NamNghề Chưa nêuCáo buộc Điều 258 (nay 331)
Tách từ chính lời kể ở trên. Mức đối chiếu A–D nói về việc thông tin được xác nhận tới đâu — không phải đánh giá người kể.
Trại B34 (Nguyễn Văn Cừ, Q1)Trại B5 (CA Đồng Nai)Trại giam Xuân Lộc
Bản đồ buồng giam · nhìn từ trên xuống
Buồng tạm giam B34
Kích thước ≈ 3 m² (~1,7 × 1,7 m) · 1–2 người
Lỗ nhỏ ở cửa chỉ vừa một hộp cơm; có lúc bị nhốt chung với ăng-ten.
Tái dựng từ lời kể · kích thước ước lượng · KHÔNG phải bản vẽ chính thức.
Dòng thời gian
13/11/2006
Bắt giữC
Tân Bình, TP.HCM
Bị bắt cùng ba và hai người khác, không lệnh, không thông báo lý do; khám nhà, tịch thu tài sản.
2006
Tạm giamC
Phường → B34
Nhốt 24h tại phường, chuyển B34; ba lần tạm giữ rồi lệnh tạm giam 4 tháng.
2006–2007
Thẩm vấnC
B34
Hỏi cung không luật sư; bị ép cung, đánh đập nhiều lần; giam chung "ăng-ten" để khai thác.
~2007
Xét xửB
Bị kết án 1 năm 6 tháng theo Điều 258 (nay 331).
2007
Chuyển trạiC
B34 → B5
Chuyển về B5 (Đồng Nai) thi hành án; điều kiện tệ hơn, giam 24/24, thiếu ánh sáng.
án thứ 1
Biệt giam / cùm chânC
B5
Biệt giam 2 lần, cùm chân 2 lần (mỗi lần 10 ngày), tổng ~1 tháng trong phòng vốn dành cho tử tù.
sau đó
Thi hành ánC
Xuân Lộc
Vụ án thứ hai, thi hành án tại Trại giam Xuân Lộc.
tại Xuân Lộc
Y tế / tử vongD
Xuân Lộc
Ông B.Đ.T. bị bệnh và chết trong tù, không được đưa ra ngoài chữa trị.
Chiều thời gian cho thấy một khuôn: bắt (không lệnh) → tạm giam kéo dài + hỏi cung có bạo lực → án ngắn → chuyển trại điều kiện xấu hơn → biệt giam/cùm chân. Khuôn này lặp lại ở lần kết án thứ hai.
Sự việc bạo lực
2006–2007 · B34C
Thẩm vấn viên ép cung, đánh đập, bóp tay, đạp ghế khiến ngã ngửa — lặp lại nhiều lần, không có camera, không bên thứ ba.
án thứ 1 · B5C
Biệt giam + cùm chân hai lần, mỗi lần 10 ngày; lý do phần lớn là "kiếm cớ" chống đối.
tại Xuân Lộc · Xuân LộcD
Một tù nhân (B.Đ.T.) chết trong tù do không được chữa bệnh — người kể chứng kiến, mức gián tiếp.
Chỉ ghi những gì người kể trực tiếp mô tả; phần nghe/chứng kiến gián tiếp để mức D.
Số liệu tự động rút · chưa kiểm
Cơ sở được nhắcTrại giam Xuân Lộc (Z30A)14 lầnTrại giam B3418 lần
Điều luật được nhắcĐiều 258Điều 331
Mức án được nhắc trong bài7 năm1 năm1 nămBài có thể nhắc mức án của cả người khác — đây là mọi cụm tìm được, không phải riêng án của người kể.
Khoảng thời gian được nhắc2006 – 2010
Độ dài7.792 từ~39 phút đọc
Nghề nghiệp và tuổi chưa rút tự động được — cần thêm ô nhập trên WordPress hoặc một lượt đọc rồi kiểm lại.
TN0002 - Trại giam Xuân Lộc
Hai lần bước chân vào chốn lao tù. Bảy năm trôi qua giữa sáu trại giam khác nhau. Đó không chỉ là những con số lạnh lùng, mà là cả một hành trình đầy nước mắt, nỗi đau và những ký ức không thể xóa nhòa. Điều gì đã đẩy một con người vào vòng xoáy nghiệt ngã ấy? Và trong những ngày tháng bị giam cầm, họ đã sống, đã chịu đựng và đã hy vọng ra sao? Câu chuyện hôm nay không chỉ là hồi ức, mà còn là lời kể chân thực về số phận, sự kiên cường và khát vọng tự do cháy bỏng.
Phần 1:
Phần 2
Phần 3
Tôi là Đ.H.C.
Nếu trong lúc chia sẻ mà tôi cảm thấy mệt hoặc không muốn tiếp tục, tôi sẽ nói để dừng lại.
Nói về việc bị bắt giữ và kết án, bản thân tôi đã bị nhà cầm quyền cộng sản kết án hai lần. Nếu cần kể lại, thì có thể bắt đầu từ vụ án đầu tiên.
Tôi còn nhớ rất rõ. Vụ án đầu tiên, tôi bị bắt vào ngày 13 tháng 11 năm 2006, cùng với ông Đ.V.V. – là ba tôi, cùng cô TT.L.H. và ông P.Q.Q.
Họ bắt tôi tại phường 20, quận Tân Bình ngày xưa – hiện nay thuộc phường Tân Thới Hòa, quận Tân Phú.
Khi bị bắt lần đầu tiên, họ không thông báo bất kỳ lý do nào. Họ cũng không nói cho tôi biết quyền của mình. Họ chỉ ập vào nơi tôi làm việc, bắt tôi, đưa về phường và nhốt tôi tại đó 24 tiếng. Sau đó, họ chuyển tôi về trại giam B34 trên đường Nguyễn Văn Cừ, quận 1.
Trong thời gian đầu, họ ra các lệnh tạm giữ liên tiếp. Sau ba lần tạm giữ, họ ra lệnh tạm giam bốn tháng. Tôi rất ngạc nhiên nên hỏi lý do vì sao bắt tôi. Họ chỉ nói: “mày chống phá nhà nước”.
Lúc đó tôi còn rất trẻ, hoàn toàn không hiểu “chống phá nhà nước” là gì. Họ tiếp tục hỏi rằng ba tôi là người chủ chốt, là người dẫn dắt tôi vào con đường đó. Tôi trả lời rằng tôi không biết gì về những điều họ nói.
Họ hăm dọa, nói sẽ nhốt tôi chung thân. Sau đó, họ xin được lệnh truy tố tôi theo Điều 258 (nay là Điều 331), với cáo buộc “lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền lợi hợp pháp của tổ chức, công dân”.
Khi bắt tôi, họ chưa có lệnh nhưng vẫn tiến hành khám xét nhà và tịch thu toàn bộ tài sản. Sau này khi có bản án, họ cũng không trả lại.
Những tài sản bị tịch thu gồm có: xe Honda, điện thoại di động và tiền mặt.
Khi đưa tôi về B34, họ khám xét người, lấy hết giấy tờ và tiền bạc.
Ở B34 khoảng 15 ngày, sau khi hoàn tất lệnh tạm giam, họ chuyển tôi về trại giam B5 thuộc Công an tỉnh Đồng Nai, nằm trên quốc lộ 1K (nay là đường Nguyễn Ái Quốc).
Phòng giam ở B34 có ba tầng, chia thành nhiều khu như A, B, C và G. Tôi từng bị giam ở tầng 3.
Buồng giam rất nhỏ, khoảng 3 mét vuông. Bên trong có một bồn cầu và một lỗ nhỏ ở cửa để đưa thức ăn vào – chỉ vừa một hộp cơm.
Thời điểm mới bị tạm giữ, họ thường nhốt tôi chung với một người. Nhưng thực chất, người đó là “ăng-ten” – người được cài vào để khai thác thông tin, gợi chuyện, khiến mình nói ra những điều họ cần làm bằng chứng.
Trong thời gian bị giam và điều tra, họ đưa tôi về B34 để hỏi cung.
Điều kiện ăn uống ở B34 rất tệ. Mỗi ngày hai bữa: trưa và chiều. Mỗi bữa chỉ có một ít cơm và một miếng cá nhỏ bằng ngón tay cái, hoặc một lát thịt rất nhỏ. Canh thì loãng, có thể là nước nấu với củ cải hoặc măng, nhưng rất ít cái, chủ yếu là nước.
Ăn chỉ để sống, hoàn toàn không đủ no.
Gia đình được phép gửi đồ tiếp tế, nhưng bị giới hạn – mỗi tháng một lần, tối đa khoảng 5kg, bao gồm cả đồ ăn và đồ dùng.
Nước sinh hoạt được chứa trong một bể xi măng nhỏ, khoảng 40x40cm, cao khoảng 50cm. Mỗi ngày họ chỉ cấp nước một lần. Nước đó dùng cho tất cả: uống, tắm, vệ sinh.
Thời gian tạm giam để điều tra kéo dài khoảng một năm.
Trong các buổi hỏi cung, không có luật sư hay bất kỳ bên thứ ba nào. Chỉ có tôi và điều tra viên. Họ muốn hỏi gì thì hỏi, muốn nói gì thì nói.
Họ thường xuyên ép cung, đánh đập, hăm dọa. Nếu tôi trả lời không đúng ý họ, họ bóp tay, đạp ghế khiến tôi ngã ra phía sau. Có lúc họ dùng gia đình để gây áp lực, làm lung lay tinh thần.
Trong phòng hỏi cung lúc đó không có camera.
Việc bị đánh đập xảy ra thường xuyên. Mục đích là để tôi khai theo ý họ, khai ra những người liên quan, hoặc thậm chí khai cả những người không liên quan để họ ghép vào vụ án.
Ngay cả người ở chung buồng cũng thường “mớm cung”, khuyên tôi nhận tội, khai đại để được giảm án.
Cuối cùng, trong vụ án đầu tiên, tôi bị kết án 1 năm 6 tháng tù.
Tôi ở B34 khoảng 10 tháng, sau đó chuyển về trại giam B5 Công an tỉnh Đồng Nai để thi hành phần còn lại.
Điều kiện ở B5 còn tệ hơn.
Buồng giam có kích thước tương tự nhưng nhốt tới 5–6 người. Điều kiện ăn uống rất tệ: cơm gạo đen, có sạn, có mùi mốc. Thức ăn chủ yếu là rau, nấu như thức ăn cho heo.
Có lần khi ăn, chúng tôi phát hiện trong tô canh có một cục phân heo khô.
Không gian giam giữ thiếu ánh sáng, luôn mờ mờ cả ngày lẫn đêm.
Có thể mua thêm đồ ăn từ căng-tin, nhưng rất đắt. Việc mua bán cũng không trực tiếp – chỉ ghi vào phiếu, họ trừ tiền trong sổ quản lý.
Ở trại B5, tôi bị giam 24/24, gần như không bao giờ được ra ngoài. Lần đi tù đầu tiên, tôi chưa từng được ra khỏi buồng giam để hít thở không khí.
Tôi không phải lao động hằng ngày. Họ nói tôi là tù chính trị nên không cho đi lao động, vì họ rất sợ.
Ở trại giam B5, thời điểm những năm 2006, 2007 rồi sang 2008, họ giam tôi chung với tù hình sự, chứ không ở chung với tù chính trị. Thật ra, khi vào đó thì họ xem mình như người mang án hình sự hết. Nhưng một mặt khác, họ vẫn ngầm đàn áp mình về tinh thần, vì họ biết mình là người bị bắt vì lý do chính trị. Họ dặn tù hình sự phải cô lập mình, theo dõi mình. Còn về điều kiện giam giữ thì tôi vẫn bị đối xử giống như tù hình sự, không có gì khác.
Chế độ thăm gặp thì mỗi tháng một lần. Nhưng chỉ khi đã có kết luận điều tra, có cáo trạng rồi thì họ mới cho gia đình gặp. Trước đó thì chỉ được gửi quà thôi. Khi đã có bản án rồi, mỗi tháng được gặp một lần, mỗi lần ở trại giam B5 chỉ có mười lăm phút.
Việc gửi quà cũng mỗi tháng một lần.
Trong lúc thăm gặp, luôn có người giám sát. Riêng trường hợp của tôi, lúc nào cũng có hai cai tù đứng nghe tôi nói gì, quan sát toàn bộ cuộc nói chuyện. Họ giám sát cả nội dung mình nói với gia đình.
Sau khi đã có bản án, trong trại giam B34 cũng như trại giam B5, họ có phát Báo Nhân Dân cho buồng giam đọc. Ngoài ra thì hầu như không có nguồn thông tin nào khác từ bên ngoài.
Còn về thực hành tôn giáo thì không có điều kiện. Trong tù họ cấm. Nếu mình có thực hành gì thì cũng chỉ là tự đọc thầm trong miệng mình thôi, chứ họ không cho thực hiện nghi lễ tôn giáo nào cả. Cộng sản Việt Nam là vô thần, họ không cho mình thực hiện các nghi lễ trong tù.
Những vật phẩm tôn giáo như hình ảnh, Kinh Thánh, tràng hạt hay chuỗi hạt, gia đình có gửi vào thì cũng bị giữ lại ở ngoài lưu ký. Họ dùng một cách rất khốn nạn: khi gia đình mang lên thì họ không nói gì, vẫn nhận, nhưng rồi không bao giờ đưa vào đến buồng giam. Nhiều người tưởng là gia đình đã gửi thì mình sẽ nhận được, nhưng thật sự là không bao giờ tới tay mình.
Về điều kiện y tế trong trại giam, họ có cái gọi là khu cảm xá. Nhưng thật ra khu đó chỉ lập ra để lòe thiên hạ thôi. Trong tù có một câu thế này: bệnh gì cũng vậy, đau bụng, tiêu chảy, sốt hay thủy đậu gì đi nữa thì cũng chỉ có hai viên thuốc – một viên “khắc phục” và một viên “cố gắng”. Tôi cũng không biết hai viên đó là thuốc gì, nhưng ai bệnh gì họ cũng chỉ phát đúng hai viên như thế.
Còn chuyện cấp thuốc hay cho đi chữa trị thì giám thị là người có quyền quyết định. Nhưng từ hai lần đi tù của tôi, tôi chưa từng thấy họ đưa ai ra ngoài để chữa bệnh hết. Tất cả đều tự nằm trong trại, bệnh thì tự chịu, rồi tự khỏi nếu còn chịu nổi. Như ở bản án lần thứ hai của tôi, tại trại giam Xuân Lộc, có ông B.Đ.T. bị bệnh rồi chết luôn trong tù. Họ đâu có đưa ông ấy ra ngoài chữa trị gì.
Trong bản án lần thứ nhất, tôi trải qua hai trại giam là B34 và B5, chỉ hai trại đó thôi.
Một ngày bình thường ở trại giam B5 diễn ra như thế này: khoảng năm giờ sáng họ đánh kẻng, tất cả phải dậy. Dậy rồi cũng không làm gì, nhưng vẫn phải dậy. Trong buồng thì ánh sáng lúc nào cũng mờ mờ ảo ảo, không đủ sáng. Sau khi dậy thì vệ sinh cá nhân, rồi ngồi đó nghe loa tuyên truyền của họ, toàn là những thứ liên quan đến đảng cộng sản. Đến khoảng mười một giờ thì phát cơm trưa, khoảng ba giờ chiều thì phát cơm chiều. Còn lại là nằm trong đó, chờ khi nào điều tra gọi ra hỏi cung, hoặc đơn giản chỉ là nằm chờ cho ngày trôi qua. Đến chín giờ tối thì lại đánh kẻng, buộc phải đi ngủ. Không ngủ cũng phải nằm im, không được lên tiếng, không được ồn ào. Nội quy của trại giam là như vậy.
Trong thời gian thi hành bản án thứ nhất, tôi bị biệt giam hai lần và bị cùm chân hai lần. Mỗi lần cùm chân là mười ngày. Họ nhốt tôi trong phòng biệt giam – thứ phòng vốn dành cho những người bị án tử hình – tổng cộng một tháng.
Lý do họ đưa tôi đi biệt giam và cùm chân thì phần lớn là họ kiếm cớ. Họ nói tôi chống đối cán bộ, không nghe lời chỉ dẫn. Họ bày ra đủ thứ cớ vì họ rất thù mình. Cụ thể, ví dụ khi mình bị gọi ra làm việc với điều tra viên mà mình không làm theo ý họ, hoặc họ nói gì đó mà mình không chấp nhận, thì họ quy là mình chống đối, không hợp tác điều tra. Chỉ cần vậy là họ có cớ để cùm mình.
Điều kiện trong buồng cùm thì rất khắc nghiệt. Họ cùm một chân suốt hai mươi bốn trên hai mươi bốn giờ. Mỗi ngày chỉ được ăn một nắm cơm, cỡ bằng nắm tay, và được phát khoảng một chai nước, tức chừng năm trăm mililít. Không có tắm rửa gì cả. Muốn đi vệ sinh thì có một cái thùng sơn đặt đó. Bị cùm một chân rồi thì chỉ có thể với tay kéo cái thùng lại gần, nhấc người lên mà đi tiểu hoặc đại tiện vào đó. Nhưng thật ra một ngày chỉ có một nắm cơm thì trong bụng còn gì đâu mà đi vệ sinh.
Cái thùng sơn đó dùng để chứa chất thải. Mỗi sáng sẽ có một người tù hình sự được giao việc mở ra, đem đi đổ rồi mang trả lại vào buồng. Họ dùng tù hình sự làm những việc như thế. Cũng chính những người đó đem cơm cho mình.
Trong thời gian bị cùm và biệt giam, cơm ăn cũng không có muối, không có thức ăn gì thêm.
Buồng biệt giam nằm biệt lập giữa một khoảng đất trống. Ở trại giam B34, nó tách hẳn khỏi các khu A, B, C. Xung quanh chỗ đó là những luống rau họ trồng để phục vụ trong trại. Mình bị giam giữa khu đó, ban ngày thì rất nóng, vì dưới là bệ xi măng. Hệ thống cùm là những thanh sắt để khóa chân. Họ đặt chân mình vào đúng vị trí rồi lấy một thanh sắt tròn, cỡ bằng nửa cổ tay, đút xuyên qua và khóa từ bên ngoài. Khi đã khóa như vậy thì chân không nhúc nhích được, không thể đi đâu.
Nếu họ ghét mình thì ban đêm, đám đi gác còn cố tình đá vào thanh sắt đó. Chân mình đang bị bó cứng, đau nhức, tê dại, mà họ đá một cái vào thanh sắt thì đau không chịu nổi. Rất nhiều trò như vậy.
Cái bệ xi măng trong buồng cùm dài khoảng hai mét, có loại kéo dài hơn, đủ để nằm bốn người nếu là buồng lớn. Tức là buồng cùm không phải lúc nào cũng chỉ có một người. Có loại giam nhiều người. Còn buồng biệt giam thì có khi nhốt hai người, có khi nhốt một người.
Như trường hợp của tôi ở B34, khi bị biệt giam thì tôi ở một mình. Trong buồng gần như không thấy ánh sáng, chỉ có một bóng đèn leo lét. Mình không biết bên ngoài lúc đó là mấy giờ, sáng hay tối cũng không rõ. Cảm giác thời gian như ngưng lại, không còn cảm nhận được gì nữa.
Riêng khu biệt giam ở trại B5, theo tôi nhìn thấy thì có khoảng hai chục phòng, vì trong đó còn có những buồng dành cho người bị án tử hình.
Trong thời gian tôi bị biệt giam ở B5, tôi có nghe được âm thanh sinh hoạt của những người bị án tử hình ở các buồng không xa. Nhưng không thể nói chuyện với họ. Một khi mình nói chuyện với buồng bên cạnh thì sẽ bị lập biên bản kỷ luật ngay, rồi bị cùm tiếp. Nội quy ở đó cấm tuyệt đối việc nói chuyện giữa các buồng. Ở buồng giam thường cũng vậy, buồng số một mà nói chuyện với buồng số hai là bị kỷ luật.
Nếu có chuyện khẩn cấp về sức khỏe thì cũng không có cách gì chắc chắn để báo. Nếu bị nhốt một mình thì càng khó. Ban đêm có đội trực gồm quản giáo hoặc những người nghĩa vụ quân sự đi tuần, khoảng hai hoặc ba tiếng một lần. Họ nhìn qua cái lỗ ở cửa buồng để xem mình còn sống hay chết. Họ đi theo lịch của họ, chứ không phải lúc nào cũng kiểm tra.
Trong bản án đầu tiên, tôi bị hai lần như vậy. Mỗi lần là bị cùm mười ngày rồi biệt giam thêm hai mươi ngày. Nghĩa là mỗi lần tổng cộng ba mươi ngày. Hai lần như vậy.
Sau những lần bị cùm và biệt giam như thế, sức khỏe của tôi bị ảnh hưởng rất nhiều. Khi bị cùm, chân không cử động được. Đến khi họ tháo cùm ra thì tôi không đi nổi, chân bị tê liệt. Những hậu quả đó kéo dài đến tận bây giờ, ảnh hưởng đến teo cơ và thần kinh tọa.
Khi hết án lần thứ nhất, tôi ra tù vào ngày 13 tháng 5 năm 2008. Bản án thứ nhất không có ghi quản chế. Nói chung cả hai bản án của tôi đều không ghi quản chế, nhưng trên thực tế họ vẫn quản chế ngầm.
Khi mãn hạn án lần thứ nhất, họ không đưa tôi về địa phương. Họ chỉ ký một lệnh xác nhận là tôi đã chấp hành xong án. Những giấy tờ liên quan đến bản án đó, đến giờ tôi vẫn còn giữ.
Khi đã chấp hành xong bản án đó thì họ thả tôi ra. Tôi tự đi ra ngoài, và người nhà đón tôi ở ngoài cổng trại. Lần đầu tiên họ không đưa tôi về địa phương.
Sau khi ra tù từ bản án thứ nhất, thái độ của địa phương nơi tôi tạm trú đối với tôi rất rõ ràng: họ xem mình như một kẻ thù. Họ bắt tôi viết tường trình, bắt tôi cam kết là sẽ không tiếp tục lên tiếng nữa.
Tôi còn nhớ, khi tôi quay về địa phương để làm lại giấy tờ và nhập lại hộ khẩu, họ bắt tôi viết một bản tường trình. Trong đó tôi viết rằng tôi đã lên tiếng về quyền lao động của tôi cũng như của anh chị em công nhân, và tôi xin hứa rằng nếu tiếp tục lên tiếng nữa thì tôi sẽ lại bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam bắt giữ.
Và thực sự thì đúng như vậy. Tôi về chưa bao lâu thì lại tiếp tục bị bắt trong bản án thứ hai.
Sau khi ra tù lần thứ nhất, tôi luôn bị theo dõi và bị quản lý theo một cách rất đặc biệt. Hầu như tôi không thể đi làm bình thường được. Tôi vốn là thợ máy, trước đây chuyên nhận bảo trì cho các công ty ở Sài Gòn. Nhưng tôi đi đến đâu, làm được vài hôm thì chủ cũng tìm cách cho tôi nghỉ. Tôi hiểu chứ, tôi biết vì sao. Trong ngành bao bì nhựa PP ở Sài Gòn lúc đó, tôi thuộc nhóm khoảng mười người thợ giỏi nhất. Cho nên tôi biết họ muốn triệt đường sống của mình.
Về sau, tôi quay trở lại với hoạt động công đoàn. Thời đó chưa có xe công nghệ, nên tôi dùng xe Honda chạy xe ôm để đi tiếp cận công nhân, phổ biến cho họ các quy định của luật lao động. Đó là công việc tôi tiếp tục làm sau khi ra tù lần thứ nhất.
Thật ra, khi tôi tiếp tục làm những việc đó, gia đình tôi không hẳn biết hết. Bên nội thì ba tôi cũng cùng bản án với tôi, nên lúc tôi ra tù thì ông vẫn còn ở trong tù. Anh tôi thì từng bị giam sáu tháng vì bị quy là giúp sức cho tôi. Cho nên phía gia đình bên nội thì không ngại. Còn bên phía bên ngoại, ví dụ như gia đình vợ tôi, thì họ không biết rõ tôi đi làm gì, nên cũng không có ý kiến gì.
Tôi bị bắt lần thứ hai vào ngày 13 tháng 2 năm 2010.
Muốn nói về bản án thứ hai thì cũng phải nhắc lại nguồn gốc từ bản án thứ nhất. Ở vụ án đầu tiên, tôi cùng ba tôi, ông P.Q.Q. và cô T.T.L.H. thành lập Hiệp hội Đoàn kết Công Nông. Trong đó ba tôi là cố vấn, cô Hồng là thư ký, tôi là chủ tịch, còn ông P.Q.Q. là cộng sự. Vì tổ chức đó mà chúng tôi bị bắt. Ông P.Q.Q. cũng bị tuyên một năm sáu tháng như tôi.
Sau khi mãn án lần thứ nhất, tôi quay về rồi tiếp tục con đường lên tiếng cho người lao động. Tôi lại đi gặp gỡ công nhân, tìm hiểu xem đời sống của họ có thay đổi gì không, và tôi thấy gần như không có gì thay đổi cả.
Lúc đó tôi quen N.H.Q.H. Anh ấy biết tôi là người đã lên tiếng cho quyền lợi người lao động và là một trong những người đầu tiên thành lập công đoàn độc lập ở Việt Nam, nên anh ấy tìm gặp tôi. Anh em nói chuyện với nhau về đời sống công nhân rồi tiếp tục làm việc cùng nhau.
Thời điểm đó, Đ.T.M.H. là bạn gái của N.H.Q.H. Ba anh em chúng tôi gặp nhau, rồi cùng nói về những yếu kém của công đoàn nhà nước. Sau đó, qua sự giới thiệu của N.H.Q.H, tôi biết ông T.N.T. ở Ba Lan. Ngày xưa ông ấy là một cựu đảng viên cấp cao của Đảng Cộng sản, nhưng sau khi thấy chế độ này quá thối nát thì ông đi học ở Ba Lan rồi ở lại luôn, không quay về phục vụ cho Đảng Cộng sản nữa.
Chúng tôi thấy người lao động vẫn bị áp bức, nên tiếp tục thành lập một tổ chức công đoàn độc lập thứ hai, đó là Phong trào Lao động Việt.
Lần thứ hai tôi bị bắt là khi đang hướng dẫn cho khoảng mười bốn ngàn công nhân ở công ty giày da Mỹ Phong, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh. Thời điểm đó công ty không trả thưởng Tết cho công nhân, không trả lương tháng thứ mười ba, và còn đòi cắt giảm nhiều quyền lợi của người lao động.
Công nhân cho chúng tôi biết rằng công ty này đang xây thêm mười phân xưởng, đang tuyển thêm mười ngàn công nhân, nhưng lại nói là không có tiền để trả lương và thưởng. Khi tìm hiểu thì chúng tôi biết công ty đó mang danh nghĩa Đài Loan nhưng thực chất là của Trung Quốc. Vì vậy chúng tôi xuống đó để hướng dẫn người lao động về quyền lợi của họ và tổ chức cho họ đình công.
Cuộc đình công kéo dài bảy ngày. Cuối cùng phía công ty chấp nhận đáp ứng bảy điểm yêu cầu mà chúng tôi đưa ra: người mang thai được hưởng chế độ thai sản, bữa ăn được cải thiện, tiền lương được cải thiện, chỗ ở được công ty trợ cấp, tiền xăng đi lại được hỗ trợ, nguồn nước uống phải bảo đảm vệ sinh, và các quyền lợi cơ bản khác của người lao động phải được điều chỉnh hợp lý.
Điều quan trọng nhất là chúng tôi buộc họ tăng lương. Năm 2010, trước đó công ty chỉ trả có 854.000 đồng một tháng. Sau cuộc đình công, chúng tôi buộc họ phải tăng lên 1.554.000 đồng một tháng cho người lao động.
Tức là việc chúng tôi làm là giành được quyền lợi cụ thể cho công nhân. Chúng tôi là những người thắng trong vụ đó, vì công ty đã chấp nhận các yêu sách. Nhưng ngược lại, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam cho rằng chúng tôi đã kích động đông người biểu tình để nhằm lật đổ chế độ.
Lần thứ hai, tôi bị bắt giữa lúc đang tham gia hướng dẫn công nhân đình công hợp pháp để đòi quyền lợi chính đáng cho mình.
Lực lượng bắt tôi là người của Bộ Công an. Khi họ phát hiện những tờ rơi của chúng tôi có nội dung yêu sách quyền lợi cho công nhân, thì người đầu tiên họ nhắm đến là tôi, vì tôi đã từng bị bắt trước đó liên quan đến hoạt động công đoàn độc lập.
Một lý do nữa là vợ tôi quê ở Trà Vinh, huyện Cầu Kè, mà huyện Tiểu Cần nơi xảy ra đình công lại ở sát đó, nên họ biết rất rõ tôi đang hoạt động ở khu vực này. Họ bủa vây, chặn tôi ngoài đường rồi bắt luôn.
Họ bắt tôi ngoài đường, rồi lập tức đưa về B34. Tôi biết những người bắt tôi hôm đó là thuộc Bộ Công an.
Lần bắt thứ hai, họ cũng khám xét chỗ ở của tôi. Họ khám phòng trọ, thu giữ xe Honda, máy laptop, điện thoại di động, và tất cả những tài sản nào có liên quan đến tôi thì họ đều tịch thu hết.
Ở bản án thứ hai này, tôi bị giam ở B34 hơn một năm.
Trong quá trình tạm giam để điều tra, tôi tiếp tục bị ép cung và bị tra tấn. Nhưng lần thứ hai còn khủng hoảng hơn lần đầu. Họ dùng một cách tra tấn rất rõ ràng: không cho tôi ngủ.
Họ làm việc với tôi cả ngày. Khoảng năm giờ chiều họ mới đưa tôi vào buồng, nhưng đến bảy giờ tối lại lôi ra làm việc tiếp. Làm đến chín giờ đêm thì cho vào. Khoảng mười giờ lại kéo ra. Họ làm việc đến hai giờ sáng, cho vào nghỉ được chừng một tiếng, rồi lại kéo ra tiếp. Họ làm như vậy để khiến tôi kiệt quệ tinh thần rồi khai thác.
Không phải chỉ một điều tra viên, mà có rất nhiều người thay phiên nhau làm việc với tôi. Một mình tôi phải làm việc với cả chục người. Người này xong ca thì sang người khác. Họ có thể nghỉ ngơi, còn tôi thì liên tục bị đưa ra làm việc.
Giai đoạn khủng hoảng nhất đó kéo dài trong chín ngày. Suốt chín ngày đó, cứ vừa được đưa vào buồng, mệt quá nằm xuống chợp mắt được một tiếng là họ lại lôi ra. Họ ép tôi phải khai những người cộng tác với mình, những người công nhân cùng tham gia biểu tình. Nhưng thật ra tôi đâu có gì để khai theo ý họ. Việc gì tôi làm thì tôi nói tôi làm, còn những người kia đâu có biết gì để mà khai. Thế mà họ vẫn ép.
Ngoài việc không cho ngủ, họ còn đánh đập tôi. Họ chia thành hai đội. Một đội thì nói chuyện rất nhỏ nhẹ, xưng anh anh em em, nói về tâm lý, thậm chí còn mang cả Kinh Thánh ra để nói chuyện với tôi. Còn một đội thì giống như quỷ dữ: vừa vào là chửi bới, ép khai, nói rằng cộng sự của tôi đã khai hết rồi, rồi đánh, đấm, đá, tát vào mặt, đánh vào tai.
Họ chủ yếu dùng tay. Có khi họ dùng dép lào, kẹp hai chiếc rồi tát mạnh vào hai bên tai.
Trong thời gian chín ngày đó, họ vẫn bố trí cho tôi ở cùng một người mà tôi biết rõ là ăng-ten của họ. Nhưng lần thứ hai thì tôi đã có kinh nghiệm từ lần đi tù trước rồi, nên tôi biết rất rõ những người như vậy là ai. Tôi yêu cầu họ tách người đó ra vì anh ta làm phiền tôi quá nhiều. Họ không chịu chuyển, nên tôi phải tự tạo cớ: tôi gây sự, đánh lộn với người đó để họ buộc phải chuyển anh ta ra khỏi buồng.
Sau việc đó, họ lấy lý do tôi vi phạm nội quy trại giam rồi đưa tôi xuống biệt giam.
Trong suốt giai đoạn tạm giam để hoàn tất hồ sơ của bản án thứ hai, tôi bị biệt giam một lần. Lần này họ không cùm, nhưng nhốt tôi một mình trong một căn buồng rất tối. Tôi không còn biết thời gian là gì nữa. Đó là khoảng thời gian tôi thấy dài nhất trong đời mình.
Tôi chỉ biết đến lúc họ đưa cơm vào thì ăn. Ăn xong, tôi đặt lại cái bo cơm – tức cái cà mèn nhựa – lên lỗ cửa để họ lấy đi. Còn ngoài ra thì hoàn toàn không biết gì. Buồng biệt giam đó lại khác những buồng khác ở chỗ nó có đến hai ba lớp cửa. Khi ở trong đó, tôi mất hẳn khái niệm về thời gian. Không còn biết đó là ngày hay đêm, ngày mấy, tháng mấy. Chỉ biết là họ đưa cơm vào thì ăn, ăn xong thì lại để ra.
Tôi ước lượng thời gian bị biệt giam lần đó khoảng hơn ba tháng. Lúc ở trong đó thì không thể biết được, nhưng sau này khi họ chuyển tôi về công an tỉnh Trà Vinh để chờ xét xử, có đọc ngày tháng, lúc đó tôi mới tính lại và biết là mình đã bị biệt giam hơn ba tháng.
Điều ám ảnh tôi nhất trong suốt quá trình đó, và cũng là điều ám ảnh nhiều anh em khác, là tiếng chùm chìa khóa của quản giáo.
Chỉ cần nghe tiếng chùm chìa khóa lắc lên là tinh thần tôi căng thẳng ngay, vì đó là dấu hiệu cho biết sắp bị lôi ra làm việc với an ninh, với điều tra. Mà mỗi lần như vậy là một lần khủng hoảng tinh thần. Cho đến tận hôm nay, đã gần mười năm sau khi ra tù, nếu có ai cầm một chùm chìa khóa lớn lắc lên là trong người tôi vẫn còn bị ám ảnh.
Điều kiện giam giữ ở B34 trong lần thứ hai về cơ bản vẫn như lần đầu, không có gì thay đổi, chỉ khắc nghiệt hơn. Nước thì họ cho còn ít hơn. Còn các chế độ khác vẫn vậy.
Sau thời gian điều tra xong, vì vụ án của tôi liên quan đến cuộc đình công ở công ty Mỹ Phong, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh, nên họ chuyển tôi về tỉnh Trà Vinh để xử.
Ở bản án lần thứ hai, tôi bị tuyên bảy năm tù giam.
Trong suốt bảy năm đó, tôi bị chuyển qua rất nhiều nơi. Từ B34 là một. Xuống trại giam tỉnh Trà Vinh là hai. Chuyển lên trại giam Đồng Tháp, tức trại Phước Hòa bây giờ, là ba. Chuyển về K1 Xuân Lộc là bốn. Chuyển vào K4 Xuân Lộc là năm. Rồi chuyển ra K2 Xuân Lộc là sáu.
Tổng cộng ở lần tù thứ hai, tôi đi qua sáu nơi giam giữ.
Thời gian lâu nhất là ở Xuân Lộc, chủ yếu tại K4 và K2. Tổng thời gian ở Xuân Lộc khoảng năm năm rưỡi đến gần sáu năm. Còn ở trại Đồng Tháp thì chưa đầy một tháng thôi.
Việc họ liên tục chuyển trại là vì họ cho rằng tôi chống đối ở mọi nơi. Tôi đi đến đâu cũng nói rằng tôi vô tội, tôi không có tội gì cả. Mà thật ra tôi có tội gì đâu để nhận. Chính vì tôi không nhận tội nên họ cứ chuyển trại liên tục.
Không chỉ chuyển trại, mà trong mỗi trại họ còn chuyển buồng liên tục nữa. Họ sợ tôi ở lâu một buồng thì sẽ nói chuyện, kết nối với những người tù khác, rồi tuyên truyền cho họ hiểu thêm về mình, về vụ án, về những điều tôi làm.
Lúc đầu trong bản án lần thứ hai, họ vẫn giam tôi chung với tù hình sự. Về sau, khi chuyển tôi về K2 Xuân Lộc, họ mới cho tôi ở chung trong một khu tù chính trị. Tôi ở khu chính trị tại K2 Xuân Lộc cho đến ngày mãn hạn tù rồi ra về.
Ngoài K2, ở K4 Xuân Lộc tôi cũng gặp một số tù chính trị khác như H.A.T, T.M.Đ. và chị N.T.T.
Có những người tù chính trị khác, nhưng họ không ở chung buồng với mình. Họ ở buồng khác, khu khác. Tuy vậy, mình vẫn biết họ. Khi đi lấy nước hay đi lại trong trại, đôi lúc vẫn gặp nhau. Chúng tôi trao đổi với nhau bằng những mảnh giấy nhỏ, ghi sẵn lên tay rồi chuyền cho nhau vậy thôi. Hễ khi nào họ phát hiện ra thì họ lại chuyển trại mình.
Nếu nói nơi nào có điều kiện giam giữ khắc nghiệt nhất trong bản án lần thứ hai, thì thật ra mỗi nơi đều có một kiểu khắc nghiệt riêng. Nhưng nếu nói về mức độ bạo lực trực tiếp, thì trại giam Đồng Tháp là một nơi rất nặng nề. Dù tôi ở đó không lâu, nhưng trong khoảng thời gian ngắn đó, tôi và N.H.Q.H. bị đánh đập, tra tấn rất nhiều. Dù chúng tôi đã có bản án rồi, họ vẫn tiếp tục đánh. Họ đánh đến mức chúng tôi ói ra máu.
Lý do họ đánh là vì họ nói chúng tôi chống đối. Chúng tôi không chấp nhận bản án của mình. Khi họ hỏi, tôi và N.H.Q.H. đều nói rằng chúng tôi vô tội, không có tội gì hết. Chỉ cần mình nói như vậy là họ đánh.
Người đánh là quản giáo. Không chỉ vậy, họ còn đưa cả tù hình sự vào để đánh mình nữa.
Hậu quả đối với sức khỏe và tinh thần sau những trận đòn như vậy là rất nặng. Lần nặng nhất là ở trại giam Phước Hòa, tức trại giam Đồng Tháp ngày trước. Họ đánh tôi đến mức ho ra máu. Không có thuốc men gì cả. Chúng tôi phải nhờ tù hình sự mua tỏi cho. Bản thân tôi khi bị ho ra máu phải ăn tỏi sống liên tục, vì nghĩ rằng tỏi có tính kháng sinh, có thể giúp trị nội thương. Đó là một thời điểm rất khủng hoảng.
Thời điểm khủng hoảng thứ hai, và để lại di chứng kéo dài đến tận hôm nay, là việc bị cùm chân. Việc bị cùm làm cơ bị teo, và dẫn đến ảnh hưởng thần kinh tọa cho đến bây giờ.
Trong bản án thứ hai, họ không cho tôi đi lao động thường xuyên. Nhưng thời gian ở trại giam Đồng Tháp thì họ có bắt tôi đi cùng tù hình sự. Chẳng hạn như đi phát cỏ, đi lấy đá chất vào các bờ tường. Tôi đi chung với một nhóm tù hình sự.
Tuy vậy, đối với tù chính trị, họ không chủ yếu ép lao động quá sức như đối với tù hình sự. Với mình, điều họ tập trung hơn là tra tấn về tinh thần. Công việc thì họ vẫn bắt làm, nhưng không phải kiểu ép chỉ tiêu nặng như với tù hình sự.
Còn với tù hình sự, khi ở chung và quan sát họ, tôi biết họ bị khoán chỉ tiêu rất nặng. Ví dụ như bóc tách hạt điều thì một ngày phải làm đủ số ký nhất định. Có lúc là ba mươi hai ký điều nhỏ, có lúc bốn mươi hai ký điều lớn, và phải làm xong trong một ngày tám tiếng. Nếu không hoàn thành thì bị kiểm điểm, bị hạ hạnh kiểm, không được xét loại khá, tốt hay trung bình, và như vậy sẽ ảnh hưởng đến việc giảm án.
Thông thường, tù hình sự làm tám tiếng mỗi ngày và chỉ được nghỉ ngày chủ nhật. Những ngày khác, bất kể nắng mưa hay thời tiết xấu, họ vẫn phải đi lao động.
Tôi đã chứng kiến nhiều trường hợp tù hình sự bị ngược đãi, bị đánh đập vì không đạt chỉ tiêu. Ở trại giam K4 Xuân Lộc, có người bóc tách hạt điều không đạt, bị đưa vào còng tay treo lên, chân chỉ vừa chạm đất, rồi bị đánh rất dã man. Đánh xong, họ lại đem đi cùm. Trong thời gian tôi ở K4 Xuân Lộc, tôi biết có một người bị cùm đến mức không được ăn uống rồi chết luôn. Đó là Quách Công Ninh.
Họ gọi đó là “chống đối lao động”. Nhưng thực chất là họ ép người tù phải lao động quá sức, phải đạt đúng chỉ tiêu mà trại giao xuống. Nếu không đạt thì bị trừng phạt.
Khi lên những trại lớn như Xuân Lộc hay trại Phước Hòa, tức trại giam Đồng Tháp cũ, thì có tivi. Nhưng tivi đó do bộ phận giáo dục quản lý, chỉ mở từ sáu giờ chiều đến chín giờ tối. Họ chỉ cho xem đúng một kênh là VTV1. Không có bất kỳ kênh nào khác. Tức là mình chỉ được tiếp xúc với thông tin mà họ cho phép, trong khung giờ họ quy định.
Sự đối xử giữa tù hình sự và tù chính trị cũng khác nhau. Tù hình sự thì phải lao động để đạt chỉ tiêu, và họ mong được giảm án để về. Còn mình thì bị theo dõi hai mươi bốn trên hai mươi bốn. Quản giáo theo dõi, rồi họ còn cài ăng-ten trong buồng để giám sát mình nữa. Mình tiếp xúc với ai, nói gì, ngồi với ai, tất cả đều bị báo cáo.
Trong suốt hai lần đi tù, tôi chưa từng bị giam chung với tù kinh tế hay những người phạm tội tham nhũng. Tôi có biết có những người như vậy, nhưng họ thường ở ngoài khu trại chính. Ví dụ khi tôi ở trại Phước Hòa, tôi biết có một người tên là Thuyết “buôn vua”, liên quan vụ án Năm Cam. Ông ấy không ở trong trại như mình, mà được cấp một khu đất bên ngoài để nuôi heo, nuôi cá. Những người như vậy không ở trong khu giam như chúng tôi.
Việc ai được ở ngoài khuôn viên trại như vậy là do giám thị quyết định.
Một ngày bình thường trong trại diễn ra như sau: năm giờ sáng thức dậy, vệ sinh cá nhân, đánh răng rửa mặt, rồi xếp hàng điểm danh. Những người tù hình sự thì xuất trại đi lao động. Còn tôi phải ở lại trong trại. Đến mười hai giờ trưa thì các đội lao động về, lúc đó mình phải chia cơm cho anh em trong buồng ăn. Ăn xong, khoảng một giờ họ lại xuất trại đi làm tiếp. Đến năm giờ chiều thì họ về tắm rửa. Khoảng sáu giờ thì tất cả bị lùa vào buồng. Sau đó mở VTV1 cho xem đến chín giờ thì tắt, rồi đi ngủ. Cứ như vậy, ngày nào cũng lặp lại.
Nếu muốn khiếu nại, phản ánh hay đề nghị điều gì thì trước tiên phải thông qua quản giáo của đội mình. Dù mình là tù chính trị, họ vẫn ghép vào một đội nào đó như đội ba, đội bốn, đội năm. Quản giáo của đội đó là người chịu trách nhiệm trực tiếp. Mình muốn nói gì thì phải báo qua người đó, rồi họ mới đề xuất lên trên. Trong trại thì có đủ các tầng nấc như giáo dục, an ninh, quản giáo, phó giám thị, giám thị.
Nhưng thực tế thì những ý kiến của mình hầu như không bao giờ được giải quyết. Họ tạo ra rắc rối để mình khó chịu.
Ngày xưa, khi tôi ở cùng những người tù lâu năm như ông N.H.C, còn có một chuyện rất trớ trêu: muốn làm đơn thì trước hết phải xin một cái đơn để được làm đơn. Tức là phải làm “đơn xin được làm đơn”. Chỉ sau khi được chấp thuận cái đó thì mới được viết đơn thật. Còn đơn viết xong có được giải quyết hay không lại là chuyện khác. Một chuyện rất hài hước, nhưng chỉ có trong nhà tù cộng sản mới nghĩ ra được như vậy.
Cái Tết đầu tiên của tôi trong tù là ở trại giam B5, Công an tỉnh Đồng Nai. Đó là một cái Tết rất nhớ nhà. Mà Tết trong tù thì làm gì có Tết. Chỉ có nếu gia đình những người tù khác gửi bánh kẹo vào thì chia nhau từng cái bánh, cái kẹo. Chứ ở tù thì chẳng bao giờ có cái gọi là mùa xuân cả.
Khi lên những trại lớn như Xuân Lộc, căng-tin có phong phú hơn một chút, nhưng giá cả rất đắt, gấp khoảng ba lần ở ngoài. Trong đó bán gì thì mình chỉ được mua cái đó. Ví dụ đồ tươi như thịt, cá thì phải đăng ký trước. Còn các mặt hàng thường thấy là mì gói, xà bông, dầu gội. Nếu mua thịt cá thì nhà bếp nấu cho mình rồi tính thêm cả tiền nấu.
Chất lượng hàng hóa trong căng-tin thì không được bảo đảm. So với ngoài xã hội thì rất tệ. Đồ có thể hết hạn mà mình cũng không có quyền lên tiếng. Chất lượng không bảo đảm, mà giá thì lại đắt hơn rất nhiều.
Cuộc sống của những người không có gia đình thăm nuôi thì rất khổ. Thứ nhất là họ cô đơn, bơ vơ. Thứ hai là họ đói. Không có người thăm nuôi thì họ thèm đủ thứ, thèm đến một cục kẹo, một miếng đường, một cái bánh. Ở trại lớn, những người có thăm nuôi mà chia cho một hai gói mì thì đó đã là một điều rất quý đối với những người không có ai thăm.
Theo tôi, điều kiện giam giữ trong các trại giam ở Việt Nam hoàn toàn không bảo đảm quyền con người. Những quyền cơ bản nhất của con người như nước sạch, ánh sáng, không khí sạch, sự đối xử như một con người – trong tù đều không có.
Nguồn nước thì bẩn, đục ngầu, bơm từ đâu đó vào. Nước uống cũng không có riêng. Mình phải lấy nước đó cho vào chai, để lắng xuống rồi mới uống. Nước tắm cũng không đủ. Buồng giam thì hôi hám, chật chội, nóng nực, thiếu ánh sáng, thiếu quạt gió. Nhiều người bị ghẻ rất nặng.
Một điều rất tệ nữa là họ nhốt chung những người khỏe mạnh với những người mắc bệnh truyền nhiễm như HIV hay lao phổi. Họ không tách riêng. Đó là một thực trạng rất tệ hại trong nhà tù Việt Nam.
Ngoài ra, tù nhân còn bị ép buộc lao động nhưng không được hưởng quyền lợi tương xứng trên sản phẩm mình làm ra. Theo lý thì người tù phải được hưởng một phần nào đó từ thành quả lao động của mình. Nhưng trong thực tế nhà tù Việt Nam, họ bóc lột sức lao động của tù nhân mà người tù không được hưởng lợi ích gì cả.
Trong cả hai bản án, tôi chỉ bị giam ở các trại miền Nam. Tôi chưa từng bị giam ở miền Trung hay miền Bắc. Tôi có nghe nhiều anh em nói rằng điều kiện giam giữ ở miền Trung, miền Bắc còn khắc nghiệt hơn vì thời tiết nặng nề hơn, nhưng bản thân tôi thì không trực tiếp trải qua.
Trong suốt hai bản án, tôi chưa bao giờ được giảm án ngày nào cả. Vì tôi không bao giờ nhận tội. Mà tiêu chuẩn đầu tiên của họ là phải nhận tội. Có tội hay không không cần biết, cứ vào tù là phải nhận. Nếu không nhận thì xếp loại chấp hành kém ngay, và như vậy thì không có chuyện được giảm án.
Nếu nói về một kỷ niệm khiến tôi nhớ nhất, thì đó là lần vào ngày 23 Tết, một nhóm cảnh sát cơ động kéo vào trấn áp anh em tù chính trị ở K2 Xuân Lộc. Hôm đó chúng tôi đứng lên phản kháng, và họ đưa tôi đi cùm. Đó là một trong những ký ức tôi nhớ nhất.
Một lần khác là khi họ cho người đánh ông B.V.T, người của Phật giáo Hòa Hảo. Tôi lên tiếng bảo vệ ông, thì họ đánh tôi rồi đưa tôi xuống cùm. Đó cũng là một ký ức tôi không quên.
Điều giúp tôi vượt qua những khoảng thời gian đó là đức tin và sự hy vọng. Tôi luôn tin rằng việc mình làm là đúng. Điều quan trọng là đừng bao giờ đánh mất niềm tin của mình, đừng để mình bị suy sụp đến mức từ bỏ quan điểm của mình. Phải giữ vững rằng việc mình làm là hợp lý, là đúng. Sai là do nhà cầm quyền độc tài này áp bức mình, chứ không phải việc mình làm là sai.
Chính đức tin và sự khẳng định đó giúp tôi vượt qua cả hai bản án. Cho đến tận hôm nay, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng việc mình làm là sai. Tôi luôn tin rằng nếu tôi sống trong một đất nước tự do, những việc tôi đã làm sẽ được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì tôi sinh ra trong một chế độ độc tài nên mới bị bỏ tù.
Nói về hối tiếc thì tôi chưa bao giờ hối tiếc về con đường mình đã đi. Nếu cho tôi chọn lại từ đầu, tôi vẫn chọn con đường đó. Có chăng, tôi chỉ làm một cách khôn khéo hơn. Nhưng còn việc mình làm là đúng hay sai, thì cho đến hôm nay tôi vẫn tin là mình đúng. Dù hiện nay tôi đã tị nạn ở Thái Lan bước sang năm thứ chín, nếu hỏi tôi có tiếp tục chọn con đường ấy không, tôi vẫn khẳng định là có.
Tôi nghĩ việc minh bạch chế độ giam giữ trong các nhà tù Việt Nam, cũng như đưa những câu chuyện của người tù ra trước công luận, là việc rất cần làm. Làm điều đó để những người có thể bị bắt sau này có cơ hội được sống trong điều kiện tốt hơn, và để các tổ chức quốc tế, những tổ chức mà Việt Nam đã ký công ước tham gia, thấy rõ bộ mặt thật của chế độ này mà lên tiếng cho quyền lợi của người tù ở Việt Nam.
Nếu được nói lại một điều với những quản giáo, giám thị, những người từng quản lý tôi trong thời gian bị giam giữ, thì tôi chỉ muốn nói rằng: người tù vẫn là con người. Hãy đối xử với họ như một con người. Đừng xem họ như công cụ để tạo ra sản phẩm và trục lợi trên thân thể của họ. Hãy đối xử tốt với họ một chút, vì biết đâu sau này còn gặp nhau ngoài đời.
Tôi cũng muốn nói lời cảm ơn vì đã có cơ hội nói chuyện ngày hôm nay trong một tâm thế thoải mái.